Chiêm tinh học hiện đại: Sự hư cấu bất thành (1/3)

The Concepts of Modern Astrology: A Critique - Ivan W. Kelly

Ivan W. Kelly

Đại học Saskatchewan, Canada

Đây là phiên bản mở rộng năm 2001 của bài báo xuất bản trong Psychological Reports (Bản tin Tâm lý học) năm 1997, 81, 1035-1066.

Bản cập nhật năm 2005 này có một vài bổ sung nhỏ, hoàn thiện hơn các đề mục và phân nhóm.
__

Tóm lược: Hầu hết những bài phê bình nghiên cứu đều quan tâm đến kết quả thực nghiệm. Bài viết này gộp lấy ý tưởng chủ đạo của chiêm tinh, tư tưởng căn nguyên của nó, và trình bày chúng dưới suy tưởng phê bình. Phạm vi của nó bao gồm những thay đổi gần đây trong các tư tưởng về chiêm tinh, cách các chiêm tinh gia đối phó với những lời chỉ trích, cũng như những vấn đề liên quan đến các tiền đề cơ bản của chiêm tinh học, nguồn gốc của những tư tưởng chiêm tinh, chiêm tinh tâm lý hiện đại, thế giới quan của chiêm tinh học, biểu tượng chiêm tinh, tính không thể kiểm nghiệm của nó cùng với sức ảnh hưởng kỳ diệu. Để trở nên xác đáng, chiêm tinh học cần những tư tưởng hợp lý và cơ sở vững chắc, cùng những phương pháp đúng đắn để kiểm nghiệm các tư tưởng ấy. Nhưng không tiềm tàng một cơ sở nào cho thấy những tư tưởng chiêm tinh là xác đáng (dù là sự soi rọi của tôn giáo, năng lực siêu nhiên, tính tương đồng, cơ sở quan sát hay lý luận). Chiêm tinh gia có thể giải thích cho việc diễn giải sai lệch một bản đồ sao bằng cách đổ lỗi cho tính biểu tượng, sự đa dạng nhân tố trong bản đồ sao, phương pháp phân tích, dữ liệu, hoặc chính chiêm tinh gia hay khách hàng. Họ cũng có thể bỏ qua diễn giải đúng vì nhận thức sai lầm (các diễn giải đã từng mang ý nghĩa như sự kiện bên ngoài, giờ đây nó mang ý nghĩa như một diễn biến tâm lý). Vậy nên chiêm tinh gia không bao giờ có thể biết được liệu chiêm tinh học đúng hay sai, hay lý thuyết luận giải của họ nên áp dụng như thế nào. Tư tưởng trọng yếu như “thiên địa đồng nhất”, khái niệm “tương liên”, cùng “toàn thể bản đồ sao” được khai triển một cách quá nghèo nàn để có thể biểu lộ được thứ gì có ích. Có rất ít sự đồng thuận về những vấn đề cơ bản và về việc làm cách nào để giải quyết sự khác biệt giữa các phương pháp và tư tưởng chiêm tinh. Biểu tượng chiêm tinh không được hệ thống hoá mà dựa trên hình ảnh ẩn dụ, sự tương đồng, liên tưởng từ ngữ cùng thần thoại, những điều này được khai triển theo các cách khác nhau bởi các chiêm tinh gia mà không hề có đường lối rõ ràng để phỏng đoán. Triết lý và thế giới quan được chiêm tinh học kết hợp thì non xanh hoặc được mô tả một cách xoàng xĩnh. Hệ quả là chiêm tinh học không có, và sẽ không bao giờ có, tiềm lực để đưa triều đại của nó vào hệ thống. Chiêm tinh học dường như khá khó khăn trong việc truyền tải bất cứ điều gì mà những nhân tố ngoài chiêm tinh có thể giải thích (hay nói rõ hơn chính là định kiến về nhận thức và kinh nghiệm). Bài viết này bao gồm trích dẫn từ những chiêm tinh gia hàng đầu và gần 250 tài liệu tham khảo.

Bài phê bình về ý tưởng chủ đạo của chiêm tinh học hiện đại này khá dài và chi tiết. Đầu tiên là  nhận thức về tư tưởng chủ đạo mơ hồ,  những thay đổi gần đây trong tư tưởng chiêm tinh và các chiêm tinh gia tránh né đối mặt với những lời nhận định như thế nào. Tiếp theo, bài viết suy xét về các vấn đề liên quan đến tiền đề cơ bản của chiêm tinh học, nguồn gốc của những tư tưởng chiêm tinh, chiêm tinh tâm lý hiện đại, thế giới quan của chiêm tinh học, biểu tượng chiêm tinh, tính không thể kiểm nghiệm của nó cùng với sức ảnh hưởng kỳ diệu. Kết luận của tôi chính là tư tưởng cốt lõi của chiêm tinh đang có vấn đề nghiêm trọng từ đầu đến cuối, và rằng chiêm tinh học sẽ không bao giờ có đủ tiềm lực để đưa triều đại của nó vào hệ thống.

1. Nhận thức về tư tưởng chủ đạo mơ hồ

Từ thời Newton, quan điểm của các chiêm tinh gia và các nhà khoa học ngày càng không cùng chiến tuyến. Các chiêm tinh gia ngày nay vẫn cho rằng sự kết nối giữa bầu trời và những hiện tượng trần thế là một sự kết nối mạnh mẽ, thấu suốt bầu trời cho phép chúng ta giải thích và/hoặc tiên đoán những gì xảy ra ở trần gian. Tuy nhiên điều này vấp phải sự phản đối của các nhà khoa học cũng như triết học. Các ngành khoa học nghiên cứu về trái đất và vũ trụ, bao gồm cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, mặc dù quan tâm không ít đến các mối quan hệ ngoài không gian với những sự kiện thế tục, cũng không cho thấy bất kỳ sự ủng hộ nào đến các lĩnh vực được tán thành bởi các chiêm tinh gia (xem Kelly & Dean 2000). Ghi chú 1

Nhắc nhở đến độc giả: Ghi chú không cần thiết phải được viện dẫn đến ngay sau sự xuất hiện của chúng. Những ghi chú này có thể được đọc toàn bộ một cách thuận tiện, và không mất đi sự xác đáng nào, sau khi bạn đã đọc xong bài viết chính.

Hơn thế nữa, các biểu tượng, thần thoại, sự tương đồng, phép ẩn dụ, và các liên kết ngôn từ trụ dưới những nhận định chiêm tinh mang đầy những vấn đề về phương pháp luận. Một trong chúng là, phần lớn tri thức của chiêm tinh mâu thuẫn với những gì chúng ta đã khám phá được về hệ mặt trời. Sao Kim được liên kết với mỹ học, tình yêu, và cảm giác hài hoà của một cá nhân. Tuy nhiên, bây giờ chúng ta biết được rằng sao Kim giống như cõi âm ty với nhiệt độ cao bất thường, phong cảnh toàn dung nham bao phủ và những đám mây dày đặc axit sulfuric. Nó thậm chí còn nóng hơn sao Thủy, mặc dù xa gấp đôi từ mặt trời.

Điểm đáng nói là hầu hết các biểu tượng chiêm tinh được chiêm tinh gia thời nay sử dụng được tạo ra trong thời gian mà nhà thiên văn học lẫn chiêm tinh gia chưa biết gì về các đặc tính vật lý của các hành tinh. Rất ít sự đồng thuận toàn cầu về nguyên lý trung tâm của chiêm tinh học, nên hãy chỉ tìm sự đồng thuận trong việc làm cách nào để giải quyết những vấn đề của nó. Khảo sát về nghiên cứu chiêm tinh học đến nay không cung cấp được bằng chứng rằng chiêm tinh học thật sự hiệu quả, ít nhất là ngoài phạm vi nhận định của một nhà chiêm tinh học.

Những dữ kiện khó tìm thấy

Tất nhiên, mỗi khi chúng ta thức dậy dưới ánh nắng mặt trời, tổ chức tiệc nướng vào những đêm trăng sáng, câu cá vào lúc thuỷ triều dâng cao, là những lúc chúng ta thấy rõ tác động của những thiên thể lên cuộc sống hằng ngày của chúng ta. Nhưng điều này thật sự khác biệt so với kết nổi mang tính biểu tượng theo cách nói của các chiêm tinh gia. Những băng tần khác của mối quan hệ có thể tồn tại và khoa học thì  hiển nhiên đón nhận những khám phá bất ngờ (bao gồm tác động của thiên thể lên hành vi của con người). Nhưng trong các ngành khoa học, tiền nhân và những người có thẩm quyền không được tôn sùng như trong chiêm tinh học. Chiêm tinh gia, nói chung, có thể được mô tả như những người không hứng thú lắm đến việc khám phá ra sự thật trong những gì mà họ quyết đoán, họ hứng thú hơn đến chuyện tạo ra những lời giả định thừa được công nhận từ trước đó (xem những tạp chí như The Mountain Astrologer hay những trang web chiêm tinh như Stariq 2000).

Leahey & Leahey (1983) nhận thấy rằng “Hầu hết các tác phẩm nổi tiếng về chiêm tinh học ngày nay thậm chí còn không cố gắng để biện hộ cho nó, mà chỉ đơn thuần dạy người đọc làm thế nào để sử dụng nó” (tr.39). Tương tự, Nias & Dean (1986) lưu ý “không ai nên nên ngạc nhiên khi biết rằng những điều khó khăn nhất để tìm thấy trong chiêm tinh là dữ kiện cụ thể” (tr.357). Nhưng nếu bạn biết phải nhìn vào đâu thì chắc chúng sẽ được tìm ra.

Sự nổi dậy của chỉ trích

Trước năm 1950 tồn tại rất ít nghiên cứu khoa học về chiêm tinh. Hầu hết các bài phê bình về chiêm tinh qua nhiều thế kỷ tập trung vào bản chất gây tranh cãi của lý thuyết chiêm tinh, hoặc khoảng cách giữa nhận định của các chiêm tinh gia với hiệu suất thực tế của họ (Long 1982).  Những thứ như hàng chục tài liệu thống kê chuyên đề bởi các chiêm tinh gia xuất hiện kể từ năm 1900, đặc biệt là ở Pháp, Đức, Anh và Mỹ, nhưng không ai được biết đến rộng rãi, trong mọi trường hợp thì phương pháp luận của họ đều quá nghèo nàn (cụ thể là không có định hướng) để cho ra được những kết quả đúng trọng tâm. Không ngạc nhiên gì khi số ít những bài phê bình được xuất bản lại bị hạn chế phần lớn về khảo sát lịch sử (cụ thể là Thomen 1938, Bok & Mayall 1941; Eisler 1946). Bài phê bình mang tính khoa học duy nhất được xuất bản rộng rãi là của nhà thiên văn học người Pháp Paul Couderc (1951/1974).

Sau đó vào năm 1955, Michel Gauquelin xuất bản bước ngoặt của mình “L’Influence des Astres”, nghiên cứu nghiêm túc đầu tiên về nhận định chiêm tinh học, với kết quả nhìn chung  là tiêu cực nhưng lại được xem là một ngoại lệ đầy tính khiêu khích (Gauquelin 1955). Nghiên cứu lôi cuốn đến mức Dean và Mather cảm thấy được khuyến khích và dẫn đến sự thành lập năm 1981 của Correlation, một tạp chí bình duyệt quốc tế dành hoàn toàn cho các nghiên cứu khoa học đối với chiêm tinh, theo sau đó năm 1982 là Astro-Psychological Problems, nghiêng về sự quan tâm của Gauquelin.

Sự thâm nhập của máy tính

Sự ra đời của máy vi tính vào cuối năm 1970 đã cách mạng hóa thực hành và nghiên cứu chiêm tinh. Tính toán một bản đồ sao gốc (cũng như những bản đồ sao bổ sung khác như progressions hay transits, vân vân) từng mất khoảng vài tiếng đến một ngày ở bất cứ nơi đâu; bây giờ có thể được thực hiện trong vòng vài giây, cho phép các nhà nghiên cứu thực hành những thứ mà trước đây họ không thể nghĩ đến.

Hiện nay có một nghiên cứu trên cơ sở học thuật với phạm vi bao phủ hầu hết những nhận định cơ bản của chiêm tinh học. Ngay cả cung mặt trời cũng được đưa vào thử nghiệm (Dean & Mather 2000). Nghiên cứu này được thực hiện bởi 200 năm nghiên cứu* và cho ra kết quả thống nhất là tiêu cực (Dean, Mather và Kelly 1996). Thật không may, phần lớn công trình này đều không được biết đến rộng rãi hoặc không dễ dàng truy cập được.

*Cách tính thời gian nghiên cứu của những nhà khoa học. Ví dụ, một công trình được tham gia bởi 1000 người trong 1 năm sẽ được tính thành 1000 năm.

Những nhận định từ năm 1980

Những bài nhận định chiêm tinh học được tìm thấy trong nghiên cứu sau năm 1980, bao gồm những tác phẩm của nhà tâm lý học Eysenck & Nias (1982), nhà thiên văn học Culver & Ianna (1988), Crowe (1990), những người theo chủ nghĩa hoài nghi Martens & Trachet (1998), học giả về Kinh thánh Ankerberg & Weldon (1989) và Bourque (1997). Những bài nhận định gần đây nhất và là những bài đầu tiên bao gồm phương pháp phân tích tổng hợp là của những tác giả như  Kelly, Dean & Saklofske (1990) và Dean, Mather & Kelly (1996). Nhận định về phương diện triết học, tôn giáo, và xã hội của chiêm tinh học bao gồm Kelly & Krutzen (1983), Leahey & Leahey (1983), Thagard (1980), Kanitscheider (1991), Dean (1992), Dean & Loptson (1996), Kelly (1998), và Spencer (2000).

Xem xét về những cuộc tranh luận của chiêm tinh gia, có Kelly, Culver & Loptson (1989), Dean, Mather & Kelly (1996), Dean (1997), và Kelly (1999, 2000). Học thuyết của chiêm tinh học (bao gồm thuyết đồng phương tương tính của Jung) đã được kiểm nghiệm trong các bài nhận định của  Dean, Loptson & Kelly (1996) và Dean, Ertel, Kelly, Mather & Smit (2000). Thuật lại công trình của Gauquelin bao gồm Gauquelin (1983 1988), Ertel (1992) và Dean (2000), để biết thêm những bài tường thuật mới nhất, có thể xem tại trang web của Gauquelin. Những định kiến về nhận thức và kinh nghiệm ẩn nấp sau niềm tin về chiêm tinh được xem xét một cách ngắn gọn bởi Dean (1992) hoặc chi tiết hơn bởi Dean, Kelly, Saklofske & Furnham (1992), và Dean, Kelly & Mather (1999).

Những lý do tâm lý-xã hội cho niềm tin vào chiêm tinh học được miêu tả bởi Durant và Bauer (1997), Lindeman (1998), chiêm tinh học cùng với các hiện tượng siêu nhiên khác bởi Goode (2000b). Những bài nhận định gần đây về sự huyền bí, bao gồm chiêm tinh học, có thể được tìm thấy bởi Couttie (1988), Hines (1988) và Neher (1990). Cũng có một nền văn học phong phú và tiếp diễn về lịch sử của chiêm tinh học, ví dụ như chiêm tinh học cổ đại (Baigent 1994; Barton 1994; Stewart 1996), chiêm tinh học thời trung cổ (Kemp 1990), chiêm tinh học trước thế kỷ 19 (Tester năm 1987, Spencer 1997), và chiêm tinh học ở thế kỷ 19 (Curry 1992). Gần đây tạp chí học thuật Culture and Cosmos với Nick Campion là người biên tập cũng là một đóng góp quan trọng đến lịch sử chiêm tinh trên thế giới.

Tại sao là bài viết này?

Kể từ giữa những năm 1970, những tạp chí tâm lý học có trung bình hai nghiên cứu thực nghiệm mỗi năm về các nhận định chiêm tinh, cùng với một số lượng tương đương dành cho các chủ đề liên quan như việc chấp nhận các phát biểu của chiêm tinh, hay sự thịnh hành của niềm tin vào chiêm tinh học, tất cả chúng đều được truy cập dễ dàng qua PsycLIT, cơ sở dữ liệu mềm của Hiệp hội Tâm lý học Mỹ (American Psychological Association). Nhưng đối với mỗi nghiên cứu thực nghiệm như vậy có ít nhất là bốn bài báo chất lượng tương đương trong các tạp chí không thể truy cập thông qua PsycLIT. May mắn thay, hầu hết các nghiên cứu lớn được liệt kê ở trên bao quát được nguồn thông tin rộng lớn này. Mặt khác, các bài nhận định chung quy đã quan tâm nhiều hơn tới kết quả thực nghiệm so với ví dụ kiểu mẫu và tranh luận về khái niệm. Bài viết này tập trung vào vế sau, và quy họp lại những chất liệu rời rạc trước đó.

2. Những thay đổi gần đây trong tư tưởng chiêm tinh

Chiêm tinh học cổ điển (truyền thống)  gắn liền với sự dự đoán và liên quan cụ thể, những giả thiết có thể kiểm chứng về sự kết hợp của các hành tinh và hoạt động của con người (Barton 1994: French 1996: Genuth 1997; Grafton 1998). Đến thế kỉ 20, các chiêm tinh gia đã cho rằng  kết nối của những vì sao chủ yếu phản ánh hành vi bên ngoài của con người, nhưng ngày nay trong các hội nhóm chiêm tinh gia tâm lý có sức ảnh hưởng, xuất hiện xu hướng xem trọng các nguyên mẫu của Jung và những cấu trúc ẩn dưới tính cách (thường là phân tâm học). Để đánh giá rõ những thay đổi này, đầu tiên hãy xem xét quan điểm của Charles Carter, chiêm tinh gia người Anh hàng đầu vào giữa thế kỉ 20:

Những trải nghiệm thực tế sẽ sớm thuyết phục những người hoài nghi nhất rằng những thiên thể của hệ mặt trời, nếu nó không thực sự tạo ra, thì cũng chỉ ra thay đổi trong: (1) tâm trí của chúng ta. (2) Cảm xúc và cảm giác của chúng ta. (3) Thể xác của chúng ta. (4) Những sự kiện bên ngoài và mối quan hệ của chúng ta với thế giới xét theo diện rộng (1925, tr.14).

Mặc dù mỗi bản đồ sao đều khác nhau, và có nhiều yếu tố chiêm tinh phải được xem xét (thường là với sự mâu thuẫn lẫn nhau), nhưng có một điều đã được thừa nhận, đó là tồn tại một điểm chung quan sát được và có tương quan cụ thể, được biểu hiện bởi những cá nhân có một sự kết hợp nhất định của các hành tinh trong bản đồ sao. Cũng như nhà tâm lý học Hà Lan Jan van Rooij đã chỉ ra:

Nếu lấy ra 100 người có mặt trời ở cung Bạch Dương, họ phải có một điểm tương đồng, không tính đến những yếu tố chiêm tinh khác. Và sự tương đồng này phải khác biệt với sự tương đồng được rút ra từ 100 người khác có mặt trời ở cung Kim Ngưu, khi vẫn không tính đến những yếu tố chiêm tinh khác.

Trên cơ sở này, chúng ta không nên mong đợi sự ảnh hưởng của một yếu tố đặc biệt trên một người cụ thể. Nhưng kiểm nghiệm trên những nhóm người sẽ cho phép những sự tương đồng được phát hiện, nếu chúng tồn tại.

Tư tưởng hiện đại

Ngược lại quan điểm trên của các nhà tâm lý và nhà chiêm tinh học, Tiến sĩ Glenn Perry, một trong những người đề xướng chiêm tinh tâm lý hiện đại (còn gọi là chiêm tinh tâm lý và chiêm tinh cổ mẫu) tại Mỹ, tuyên bố:

Chiêm tinh học không giải quyết những gì có thể đo lường một cách khách quan … những bản đồ sao [gốc] mô tả cấu trúc và động lực của ý thức … [nó] chuyển đổi trọng tâm từ việc dự đoán kết quả sang diễn giải ý nghĩa của kết quả tương ứng với đời sống nội tâm của một người  (năm 1993, tr.7,8,9).

Hơn nữa, “chiêm tinh học chỉ đóng một vai trò về mặt tinh thần và không thể hiện bản thân một cách nhất quán hoặc có hệ thống trong các sự kiện và hành vi” (Terpstra 1994, tr.42). Ở đây, sự  kết nối trực tiếp của Carter với các hành động và các sự kiện bên ngoài được giảm nhẹ. Thay vào đó điểm mấu chốt chính là cấu trúc lý thuyết của tâm lý mới thật sự kết nối một cách biểu tượng với các hành tinh. Ghi chú 2

Trong nửa sau của thế kỷ 20, nhiều chiêm tinh gia nghĩ rằng các phát minh khoa học có thể củng cố nhiều nhận định của chiêm tinh. Kể từ những năm 1950, nhiều nghiên cứu đã được tiến hành bởi các chiêm tinh gia và các nhà nghiên cứu đồng cảm với chiêm tinh học. Khung cảnh có được sau những cuộc nghiên cứu này, như đã chỉ ra, phần lớn là tin xấu cho chiêm tinh học. Nhưng những nghiên cứu tiêu cực, ngay cả khi chúng được tích luỹ dần, vẫn bị chối bỏ và chống đối theo nhiều cách bởi các chiêm tinh gia, như các ngôi sao chỉ ra xu hướng chứ không bắt buộc, hay chiêm tinh gia hoặc các phương pháp cũng không thể không có sai số, điều này cho phép họ duy trì niềm tin của mình vào chiêm tinh học bất kể bằng chứng chống đối hay phê bình nào (xem Kelly 1998).

3. Đối phó với những lời chỉ trích

Phản ứng với tin xấu trong đảng phái chiêm tinh bao gồm bỏ lơ nó, dịch chuyển trọng tâm bài viết, tháo lui vào hình ảnh ẩn dụ, viện dẫn đến sự tinh tế, trở nên giáo điều, đổ lỗi cho phương pháp sai, và giả định sự thật. Chi tiết hơn về các chiến lược ấy như sau:

Bỏ qua tin xấu

Trước hết, tin xấu và kết quả không mong muốn có thể bị bỏ qua hoặc xem nhẹ. Như chiêm tinh gia Robert Hands nói, “Kết quả tích cực trong nghiên cứu khoa học về chiêm tinh phải được nhìn nhận một cách nghiêm túc và không thể chối cãi, nhưng kết quả tiêu cực thì không quá nghiêm trọng như thế” (trích trong Perry 1995a, tr.37). Nhìn chung, đây là phản ứng chủ yếu bởi cộng đồng chiêm tinh.

Lấy ví dụ, thứ đáng xấu hổ này được thực hiện bởi John Anthony West trong The Case for Astrology (1991), nơi ông nói “Vì mục đích của cuốn sách này là trình bày những bằng chứng tích cực, chi tiết rõ rằng về số lượng lớn các bằng chứng tiêu cực không nằm trong sự quan tâm của chúng tôi” (tr.234). Nhưng gần như tất cả các bằng chứng về nhận định chiêm tinh là tiêu cực hoặc không thích đáng, vậy nên việc lấp liếm cố tình của West là vô trách nhiệm (Dean 1993). Chuyến ghé thăm bất kỳ nhà sách chiêm tinh nào cũng sẽ nhanh chóng xác nhận rằng nghiên cứu về chiêm tinh rất hiếm khi được trích dẫn và nếu có, nó thường chỉ bao gồm một giới thiệu méo mó về những phát hiện của Gauquelin (Kelly & Saklofske 1994) Ghi chú 3 và một sự tín nhiệm đã lỗi thời cùng diễn giải sai lệch về nghiên cứu cáo buộc những ảnh hưởng của mặt trăng lên hành vi của con người (xem Kelly năm 2000, phân tích về nhận thức sai lầm của các chiêm tinh gia trong nghiên cứu về mặt trăng, và Kelly, Rotton & Culver năm 1996 cho một nhận định gần đây trong nghiên cứu về ảnh hưởng của mặt trăng). Ghi chú 4

Dịch chuyển trọng tâm

Những bài phê bình và bài viết dài dòng nghiêm trọng vô quy tắc đều có thể được giải quyết bằng một cái vẫy tay theo hướng khác cùng một suy đoán được nâng tầm tới trình độ vị lai. Lấy ví dụ như, một vấn đề nghiêm trọng trong chiêm tinh chính là sự phân chia khác biệt giữa vòng hoàng đạo Thiên văn phương Đông và vòng hoàng đạo Nhiệt đới phương Tây. Hai vòng hoàng đạo này hiện tại lệch nhau khoảng một cung. Một người có thể là Bạch Dương ở phía Bắc Mỹ nhưng lại là Song Ngư ở Ấn Độ (Cornelius, Hyde & Webster 1995, tr.31). Mâu thuẫn giữa hai vòng hoàng đạo này có phải là vấn đề đối với chiêm tinh? Cornelius cùng cộng sự nói với chúng ta rằng điều này có thể xảy ra vì đây là “hai hệ thống tác động khác biệt nhau, một từ chòm sao và một từ chu kỳ trái đất-mặt trời”, hoặc cách khác, chúng ta có thể xem “cả hai vòng hoàng đạo là hai phản ánh của cùng một hình thức biểu tượng… [rằng] cả hai đều thể hiện theo cách riêng của chúng” (tr.32). Sự rối rắm “hệ thống tác động” và “những phản ánh … thể hiện theo cách riêng của chúng” không được làm sáng tỏ ở bất kỳ đâu, do đó sau khi được nói thêm điều này chúng ta cũng không hiểu rõ hơn chút nào so với trước khi chúng ta chưa được nói. Ghi chú 5

Thoái lui vào ẩn dụ

Còn những người được sinh ra cùng một lúc và có số phận khác nhau? Điều này đã từ lâu là một chuẩn mực để tranh cãi trong chiêm tinh học. Các chiêm tinh gia cùng nói với chúng ta: “Bản đồ sao đơn lẻ [có thể] được đọc như là một dấu hiệu cho những cặp sinh đôi với những nhóm các hành tinh miêu tả hai cá thể… khi mà thông thường một trong cặp sinh đôi phản ứng với mặt trời và cá nhân còn lại phản ứng với mặt trăng trong cùng một bản đồ sao” (Cornelius cùng cộng sự 1995, tr.131). Tại đây thuật ngữ “thông thường” chỉ sự thiên hướng chứ không phải bắt buộc, để tránh trường hợp phủ nhận. Ghi chú 6 Chúng ta cũng được phép hỏi rằng cá nhân nào sẽ phản ứng với mặt trăng và cá nhân nào sẽ phản ứng với mặt trời, nhưng không có câu trả lời nào giải đáp. Ghi chú 7

Nếu chiêm tinh không hiệu quả, Cornelius cùng cộng sự nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta luôn luôn có thể diễn giải biểu tượng chiêm tinh theo một lối ẩn dụ, ví dụ, “Sigmund Freud đã được sinh ra ở một châu lục khác nhưng chỉ chênh lệch vài phút với giờ sinh của Robert Perry (nguyên văn) Freud khám phá ra vô thức và Perry (nguyên văn) khám phá ra Bắc Cực” (tr.131, đồng thời xem tr.96). Do đó, những người sinh cùng giờ khắc này đều là những nhà khám phá! Ghi chú 8 Nếu diễn giải bao gồm cả nghĩa cụ thể và nghĩa trừu tượng (kể cả hình ảnh ẩn dụ) và cả hai đều chấp nhận được như nhau trong một nhận định chiêm tinh, thì chúng ta không thể không tìm thấy được sự tương đồng nào giữa bản đồ sao và chủ nhân của nó. Về mặt tích cực của điều này, bạn không bao giờ phải thừa nhận rằng mình đã sai, về mặt tiêu cực, những gì được báo trước thật sự rất là ít ỏi.

Viện dẫn đến sự vi tế

Cách phản ứng phổ biến thứ tư chính là nói rằng sự việc mà chiêm tinh giải quyết đến thật sự rất tinh tế và khó nắm bắt, và những gì cần thiết chính là nhiều cách sáng tạo hơn để dò xét chúng. Lấy ví dụ, ngay cả một nghiên cứu lớn trên nhiều cá thể đưa đến quan điểm rằng cung mặt trời không có giá trị (Dean & Mather 2000), chiêm tinh gia Harvey vẫn có thể nói “Điều đó là hoàn toàn chính xác khi vào lúc đó chưa có sự có mặt của cung và nhà… (1982, tr.47, in nghiêng của Harvey) và 12 năm sau, sau khi nhận biết được thậm chí một khối lượng lớn hơn các nghiên cứu mang kết quả tiêu cực, Harvey nói “Cá nhân tôi vẫn tin rằng, khi thực hiện nhiều cuộc thí nghiệm tinh tế và sáng tạo hơn, thì sự xác thực của cung mặt trời, hay cung hoàng đạo nói chung, sẽ được kiểm chứng” (1994, trang v) Ghi chú 9

Tương tự, sau khi tìm thấy không có mối quan hệ nào giữa rối loạn định dạng giới tính và các yếu tố chiêm tinh, Anderson (1997) cho rằng “Ở môt chừng mực nào đó phải tồn tại những dấu hiệu chiêm tinh ước đoán rằng sẽ đến lúc trong cuộc đời của một người xảy ra những biến động mang tính phá huỷ này” (tr.106, in nghiêng của tôi). Vì phản biện những trường hợp như thế này là khó khăn, luận điểm đó có thể được duy trì vô thời hạn.

Bài có thể cùng chủ đề:  Chiêm tinh học hiện đại: Sự hư cấu bất thành (2/3)

Giáo điều

Một vấn đề nữa chính là các chiêm tinh gia với những luận điểm về lý thuyết căn bản không tương đồng nhau có thể chọn một thái độ giáo điều như nhau về niềm tin riêng của họ. Dùng một điệu  bộ như thế để đối diện với những bằng chứng tiêu cực hứa hẹn một hệ thống chiêm tinh bất động không phát triển. Nhà thiên văn học Culver & Ianna (1998) nhìn nhận, tình hình này lan tràn khắp các chiêm tinh gia đến nỗi họ mệnh danh chiêm tinh học là “hội chứng Song Tử”, việc sử dụng một cách tự tin những lời tuyên bố rành rành mâu thuẫn, như bản chất hai mặt của cung Song Tử. Nếu các nhà khoa học sử dụng thái độ tương tự để đối diện với những nghiên cứu tiêu cực hoặc tranh cãi, khoa học vật lý vẫn sẽ là tôn đồ của Aristotle.

Việc cần thiết những kiểm nghiệm nhạy cảm hơn cũng mâu thuẫn với sự giả định dễ dàng khi những liên kết chiêm tinh đầu tiên được công nhận. Như Perry (1993) nói với chúng ta về thời cổ đại, “với bất kỳ ai cố gắng nghiên cứu nghiêm túc môn học này, có một sự khiếm khuyết rõ ràng với bản thân họ khi không thể vẹn toàn chứng minh giá trị của chiêm tinh học” (tr.3). Sự mâu thuẫn này cần có một lời giải thích. Hơn thế nữa, theo dòng lịch sử của tư tưởng, viện đến sự hiển nhiên trong thân tâm không phải là một chỉ dẫn đúng đắn để đến với chân lý.

Đổ lỗi cho phương pháp

Cuối cùng, một người có thể nói rằng, nếu những nhà nghiên cứu có trong tay các kết quả tiêu cực, thì chắc hẳn họ đã thực hiện sai cách. Họ đã sử dụng sai phương pháp, sai mô hình hoặc sai cả hai. Cách tiếp cận này ngày càng được dùng nhiều bởi các chiêm tinh gia kể từ năm 1950, khi những nghiên cứu (thường là có kết quả xấu) đã được thực hiện. Ví dụ, West (1991, 1996), dám chắc rằng những phê bình khoa học của chiêm tinh là không thích đáng bởi lẽ chiêm tinh là “một hệ thống huyền học” (tr.223), và huyền diệu ở chỗ nó là “nỗ lực thấu suốt những quy luật cơ bản của cộng hưởng – những quy luật đã tạo ra vũ trụ” (tr.220). Ông ta thẳng thừng một cách không thích đáng về “hệ thống huyền học” và chúng ta bị bỏ ngỏ với chồng chất những nhận định thiếu sáng sủa về “khả năng sáng tạo của tự nhiên”, hay “quy luật hài hoà” và những chứng dẫn đến “sự thông thái cổ xưa”. West (1991, tr.222-223) quy những biểu hiện trừu tượng, được nghiên cứu bởi các chiêm tinh gia, của các hành tinh lên trần thế là những ảnh hưởng qua lại của các dao động được thấu hiểu một cách nghèo nàn trong từ trường vật lý xung quanh các hành tinh, thậm chí với một sự hiểu biết nông kém, lý thuyết suông và lỏng lẻo hơn cả chúng tôi. Ông ta nói:

Chỉ có Heka, Thần diệu, Quy luật tương xứng mới thấy được Sự truyền cảm Thiêng liêng (Ý chí hay Dự định), được biểu lộ trong các hành tinh và chuyển giao bản thân nó … trong những tần số và biên độ tinh vi để dò tìm. Điều này đồng thời sản sinh ra dao động trong những trường điện tử hoặc địa từ … tuy nhiên đến nay vẫn chưa được thấu suốt rõ ràng hoặc nêu danh cụ thể mặc dù sự tồn tại của chúng đã được công nhận. Những dao động này thuộc vật chất theo khía cạnh chúng trực tiếp tương đồng với dao động trong không khí, với sóng âm thanh được tai người phân tích như âm nhạc, hoặc như mắt phân tích các sắc màu. Trong trường hợp này, những dao động trên tượng trưng cho bản hoà âm của bầu trời, và chúng biểu hiện trên mặt đất bằng “ý nghĩa”. Nghiên cứu ý nghĩa này chính là khái niệm của chiêm tinh học.

Sự “trực tiếp tương đồng” của West giữa việc nghe thấy, nhìn thấy và ý nghĩa của chiêm tinh có một lỗ hổng sâu sắc. Sự bất nhất giữa hai thứ được đem ra so sánh quan trọng hơn bất kỳ sự tương đồng nào. Chúng tôi có một lượng kiến thức lớn về âm thanh và sóng màu. Lấy ví dụ, chúng tôi biết về sự liên quan của cơ quan cảm thụ, và vùng não kết nối với những cảm giác đó. Mặt khác, chúng tôi không hiểu cụm “dao động tượng trương cho bản hoà âm của bầu trời” có nghĩa gì, chúng tôi cũng không xác định được phương pháp tin cậy để phân biệt những dao động khác nhau giữa hành tinh và tiểu hành tinh, chưa kể đến việc hiểu được những tần số và dao động liên hệ đến hành tinh trong giả thiết như thế nào, hay xác định cơ quan cảm thụ nào có liên quan.

Giả định sự thật

Ngoài ra, trong khi chúng tôi có vài hiểu biết về việc làm thế nào để sóng âm liên hệ được với cao độ và được phân tích như âm nhạc, chúng tôi không có được sự hiểu biết tương tự về việc làm thế nào để phân tích một cách xác thực hoặc xác định những dao động trên như là mô tả cho đời sống tình yêu, hoặc tình trạng tài chính, huống hồ chi là dự đoán tương lai, hoặc làm thế nào để những “hoà âm bầu trời” đó có thể dẫn đến nhận định ớt Cayenne tương ứng với sao Hoả. Hơn thế nữa, trong khi khả năng của các giác quan giữa con người là khác nhau, và chúng suy giảm theo tuổi tác, không có điều tương tự với việc con người có độ nhạy khác nhau tới những tác động chiêm tinh, hay phản ứng của chúng ta tới ảnh hưởng của chiêm tinh cũng giảm dần theo tuổi đời. Như Evans (1994) chỉ ra trong hệ thống của West:

Hệ thống thần diệu là một hệ thống kín. Chúng ta được mời đến để tin tưởng rằng nó là chân lý, không phải vì nó kết nối với những thứ đã được kiểm nghiệm là sự thật, mà bởi một vài chân lý cố hữu của nó nắm được sự thật, như sao Thổ tượng trưng cho sự hạn chế trong khi sao Mộc tượng trưng cho sự mở rộng (tr.413).

Trong khi đó, nhìn chung, các chiêm tinh gia cho ra ấn tượng rằng những nhận định về cung, nhà, góc hợp, và những điều tương tự là những nhận định theo chủ nghĩa kinh nghiệm (tức là, những nhận định có thể bị chối bỏ hoặc bị điều chỉnh bởi nghiên cứu hoặc lý thuyết), với hầu hết các chiêm tinh gia những nhận định như thế này thực sự hoạt động như những nhận định tất yếu chính xác (Kelly 1998). Sự đúng đắn trong lý thuyết cốt lõi của chiêm tinh không bao giờ tự nghi ngại bản thân nó. Ghi chú 10

4. Các vấn đề với ba tư tưởng cơ bản của chiêm tinh học

Ở đây tôi kiểm nghiệm trên ba tư tưởng cơ bản của chiêm tinh học, cụ thể là thiên địa đồng nhất, khái niệm vạn vật tương liên, và chỉ duy nhất toàn thể bản đồ sao mới đầy đủ ý nghĩa. Tôi sẽ xem xét lần lượt từng vấn đề. Các tư tưởng khác như bản đồ sao thực sự chỉ ra điều gì, sẽ được bàn đến sau.

Tư tưởng 1: Thiên địa đồng nhất

Mối quan hệ mơ hồ như thiên địa đồng nhất được mặc nhận bởi các chiêm tinh gia giữa bầu trời và các hiện tượng trần thế là mối quan hệ tương quan, không phải quan hệ nhân quả. Như cựu chiêm tinh gia Joanna Ashmun (1998, tr.6) đã chỉ ra:

Quan điểm cốt lõi của chiêm tinh là trên sao thì dưới vậy. Nó đã được xây dựng để hàm chứa rất nhiều ý nghĩa, phần lớn trong số đó là xuẩn ngốc, nhưng ý nghĩa cơ bản của nó là hình mẫu trên trời được phản ánh lại trong mỗi cá nhân, như bản đồ sao phần nào đó được thấm nhuần trong một cá thể. Đơn giản là nó giả định rằng có một sự đồng nhất giữa bản đồ sao gốc và chủ nhân của bản đồ sao đó.

Quan niệm trên sao dưới vậy được dựa vào lời phát biểu trong một tài liệu giả kim nổi tiếng Bảng Ngọc Bích (Emerald Tablet), có từ thế kỉ 9. Phát biểu trên được cho là thể hiện sự đồng nhất vũ trụ giữa thứ vi mô và thứ vĩ mô, cốt lõi của chiêm tinh học, nhưng oái oăm thay, nó là bản dịch sai của bản tiếng Ả-rập trước đó và không hề có liên hệ gì với vũ trụ đồng nhất. Theo Merkur (1990), phát biểu gốc được bắt nguồn giữa các nhà giả kim và liên quan đến việc chưng cất. Bản gốc tiếng Ả-rập là “Những gì ở trên được tạo thành từ những gì ở dưới, và những gì ở dưới được khởi nguồn từ những gì ở trên” (tr.36), có nghĩa rằng những gì chưng cất ở trên được tạo thành từ dung dịch được đun nóng ở dưới, ngay lúc đó nó cô đọng lại và trở về phía dưới một lần nữa. Về cơ sở này quan điểm cốt lõi được phỏng đoán là siêu việt của chiêm tinh thật ra lại là vật lý thuần tuý!

Chiêm tinh học truyền thống thường chứa chấp quan điểm rằng mối quan hệ giữa trời và (sự việc ở) đất mang tính nhân quả. Như Placidus đã nói vào năm 1657, “Việc cho rằng các căn nguyên trên trời có khả năng ảnh hưởng đến các thể xác trần gian là điều bất khả (trong khi chúng cách rất xa những thứ ở mặt đất), trừ khi thông qua môi trường trung gian hoặc thiết bị ảo … phương tiện gây ra căn nguyên của các vì sao chính là ánh sáng”, và “những vì sao, khi chúng không hiện lên, là khi chúng không hoạt động”, vậy thì các chiêm tinh gia nên “loại bỏ những ảnh hưởng huyền bí bởi chúng không cần thiết, và hơn thế nữa, không có tính khả thi” (tr.1,3).

Hầu hết các chiêm tinh gia hiện đại loại bỏ phương pháp tiếp cận nhân quả này Ghi chú 11. Perry (1994) cho chúng ta biết mối quan hệ giữa một người và bản đồ sao của người đó chỉ là mối quan hệ tương quan. Những thiên thể thiên văn phản ánh trải nghiệm đời sống con người phần nào giống như một chiếc gương phản chiếu một cảnh trí cần được phân tích. Nhưng có nhiều bất đồng về việc thiên thể nào thì thích đáng để phân tích, và phân tích ra sao.

Bất đồng cũng là một nguyên tắc

Trong thực tế, dù cho một chiêm tinh gia có nhận định như thế nào, thì việc dò tìm các tài liệu luôn luôn sẽ cho ra một nhận định mâu thuẫn bởi các hội nhóm chiêm tinh gia khác. Không giống như tranh luận trong khoa học, khó mà biết được những cuộc tranh luận trong chiêm tinh có thể được giải quyết như thế nào, dù là về mặt nguyên tắc. Sự bất đồng này tồn tại ngay cả ở trình độ cơ bản nhất trong cộng đồng chiêm tinh, ví dụ như chiêm tinh gia phương Tây bất đồng với chiêm tinh gia phương Đông về cung hoàng đạo và số lượng hành tinh cần sử dụng. Trong khi chiêm tinh gia Ấn sử dụng những chòm sao thực tế trong bản đồ sao của họ, vòng hoàng đạo của phương Tây lại không phụ thuộc vào chòm sao. Những hệ thống như vậy xung khắc lẫn nhau, tuy nhiên vẫn được nhìn nhận là hoàn toàn chuẩn mực bởi những người sử dụng chúng.

Dao động cung hoàng đạo

Cung và nhà trong chiêm tinh đầy những trúc trắc và không có một quy tắc nào được thoả thuận để cân nhắc ảnh hưởng của chúng. Lấy ví dụ, chiêm tinh gia Prudence Jones (1996, tr.282) cho biết:

[Cung hoàng đạo] đang nằm trên một nền tảng lung lay từ quan điểm của góc nhìn hiện đại. Làm thế nào mà trên bầu trời chia đều mười hai phần 30 độ trong mặt phẳng hoàng đạo, đo từ điểm xuân phân nhưng lại được đặt tên theo một chòm sao giờ-đã-cách-xa-nó, phân bổ bất kỳ tính chất nào nó có đến hành tinh, nhà, các điểm số mệnh Ả-rập và giao điểm của mặt trăng, trong khi chúng ta nhìn nhận những thành phần này mà không kể đến phông nền phía sau của chúng? Liệu họ có thật sự làm như vậy không, hay đây chỉ là một suy nghĩ trong ao ước? Vài chiêm tinh gia giải nghĩa cung hoàng đạo (cho mặt trời trong một cung là bản mẫu của cung hoàng đạo đó, thường không đi kèm với giải thích) như là bản tóm tắt cho tính cách của từng mùa. Nhưng điều này cũng ngụ ý rằng, trật tự mùa của họ nên đảo ngược lại ở bán cầu Nam, mà điều này hiếm khi xảy ra. Và sẽ như thế nào trong những trường hợp gần xích đạo, nơi khác biệt mùa màng là không đáng kể, dĩ nhiên là trừ nơi chiêm tinh học được sáng tạo ra?

Mặc dù vòng hoàng đạo phương Tây đã mất đi liên hệ của nó với bầu trời nguyên thuỷ (và không thể được tối giản như là ảnh hưởng theo mùa), những người sinh ra với cung hoàng đạo phương Tây vẫn được cho là có thể hiện những tính cách liên quan đến chòm sao gốc. Cung hoàng đạo thiên văn có cùng ý nghĩa với cung hoàng đạo nhiệt đới, cụ thể như Bạch Dương trong cả hai hệ thống đều hiếu chiến, nhưng ý nghĩa này lại không thể được áp dụng trên cùng một khoảng trời. Vậy nên một mặt có thể tin rằng có một khoảng trời nhất định mang ý nghĩa cảm xúc mạnh mẽ, trong khi mặt khác khoảng trời này mang ý nghĩa thanh thản, không lo nghĩ (Thiên Yết với Thiên Bình).

Bất đồng về các nhà

Điều tương tự cũng xảy ra với quan niệm chiêm tinh về các nhà. Ý nghĩa của chúng trong các hệ thống đều như nhau, nhưng vì ranh giới của chúng có thể thay đổi, ý nghĩa của một khoảng trời nhất định lại phụ thuộc vào hệ thống nhà được sử dụng. Các hệ thống nhà có thể khác nhau về việc đánh số, sự nối tiếp, phương pháp phân chia, và cách diễn giải (Dean & Mather 1977; Martens & Trachet 1998). Hơn nữa, vài hệ thống nhà (bao gồm cả Placidus thịnh hành) đều bị đứt quãng ở nơi có vĩ độ cao. Ở nơi đấy, vài phần trong vòng hoàng đạo không bao giờ thấy được mặt trời mọc hay lặn, những hệ thống nhà bị tác động sẽ có những đỉnh nhà hoặc hành tinh rơi vào những khu vực như thế và không được hiển thị trong bản đồ sao, vậy nên về mặt tác động chúng không hiện hữu.

Bất đồng về các hành tinh

Các chiêm tinh gia phương Tây cũng khác biệt nhau trong việc sử dụng bao nhiêu hành tinh, vài người sử dụng những hành tinh chưa được phát hiện về mặt giả thiết, vài người sử dụng tiểu hành tinh (Dean & Mather 1977). Diễn giải tốt/xấu về các transits cũng song hành với quan niệm transits là cơ hội để học hỏi và phát triển. Sự đa dạng ngay từ nguyên tắc cơ bản đã đặt căn cứ cho chúng ta hoài nghi về nhận định rằng các chiêm tinh gia đang nói về một thứ mà họ thật sự thấu suốt. Chiêm tinh học, theo nhiều nghĩa khác nhau, đã tồn tại trong khoảng ít nhất 250 năm. Vào khởi đầu của thiên niên kỉ, chiêm tinh học đang trong giai đoạn nhiễu nhương với sự gia tăng thừa thãi của những nhận định trái chiều và thiếu vắng sự đồng thuận về việc làm cách nào để cân chỉnh chúng Ghi chú 12 Những nhận định ngày càng biến đổi và mâu thuẫn trong lúc các chiêm tinh gia (cuối cùng cũng) chú ý đến những gì nghiên cứu tìm thấy và thoái lui vào đồng cỏ an toàn hơn.

Tư tưởng 2: Vạn vật tương liên

Đi cùng với sự mơ hồ, đa dạng trong diễn giải như quan niệm thiên địa đồng nhất chính là tư tưởng tương liên nhập nhằng. Harding cho biết, “Chúng ta được kết nối qua lại với nhau; tôi nghĩ đây là thông điệp chính của chiêm tinh học” (trong Phillipson 2000, tr.187), và Brady nói rằng “Trụ cột cốt lõi của chiêm tinh chính là sự tương liên của vạn vật, vậy nên [chiêm tinh] không thể nói rằng bạn hoàn toàn tách biệt và thế đấy. Nó không thể nói thế” (trong Phillipson 2000, tr.189).

Nhưng các chiêm tinh gia không độc quyền khái niệm tương liên. Sự quen thuộc của chúng ta với các quan điểm khác về tương liên khởi phát một cảm giác tin cậy với những quan điểm mơ hồ của chiêm tinh. Trong những năm 1600, Newton xây dựng giả thiết tương liên trong tuyên bố của mình, rằng mọi vật thể trong vụ trụ đều hấp dẫn những vật thể khác. Thuyết tiến hoá nhấn mạnh những cơ thể sống và môi trường của chúng đều được cấu thành từ một mạng lưới tương liên, và mọi sự sống cùng chia sẻ với nhau một nền tảng hoá học. Thiên văn học cho biết mọi vật chất trong vũ trụ ra đời từ vụ nổ Big Bang và đều có nguồn gốc từ các vì sao. Con người được kết nối qua lại về mặt sinh học bởi chúng ta cùng chia sẻ với nhau một cấu trúc DNA, lịch sử và khoa học xã hội cho thấy chúng ta không thể nào là một cá thể tách biệt bởi chúng ta có chung một nền văn hoá và di sản, sự gia tăng của chuyên môn hoá kinh tế thừa nhận rằng mỗi cá thể có mối quan hệ liên quan và tương hỗ đến những cá thể khác.

Không quan điểm nào trong các quan điểm trên bao hàm hoặc thậm chí là củng cố tư tưởng tương liên trong ngữ cảnh chiêm tinh học, tức là tư tưởng tương liên như một sự kết nối trừu tượng giữa các thiên thể và sự kiện trần gian, được dàn xếp bởi các diễn giải dựa vào những khái niệm như thần thoại (Mercury là người đưa thư của các vị thần, vậy nên sao Thuỷ cai quản những bộ phận, cơ quan truyền thông tin trong cơ thể), hoặc những diễn giải theo nghĩa đen của các hình ảnh ẩn dụ (vòng tròn của sao Thổ tượng trưng cho sự ràng buộc), diễn giải theo sự tương đồng (màu đỏ của sao Hoả tượng trưng cho máu và sự hiếu chiến) và liên tưởng theo sự tương ứng của nó (“Nếu bạn muốn kích hoạt năng lượng sao Hoả, hãy mặc đồ màu đỏ” — Phillipson 2000, tr.67).

Cũng không có quan điểm nào được đề cập trước đó từ các môn khoa học tự nhiên hoặc xã hội cho thấy cụm hành tinh tượng trưng (gọi là tượng trưng vì nó thường không có kết nối thực với cụm hành tinh thực tế) có một mối quan hệ mạnh mẽ với các sự kiện trần thế, hay các cụm hành tinh ở thời điểm sinh của một người có tác động kéo dài lên đời sống của người đó, hay các biểu tượng của chiêm tinh là phổ quát cho tất cả mọi người xuyên suốt không gian và thời gian.

Tư tưởng 3: Chỉ duy nhất tổng thể bản đồ sao mới đầy đủ ý nghĩa

Vì mọi thứ đều có quan hệ tương liên, các yếu tố chiêm tinh không thể được xem xét một cách riêng lẻ mà phải cần đến tổng thể bản đồ sao. Vậy nên quy tắc trọng yếu chính là “vì bất cứ chủ ý chiêm tinh nào, chỉ có tổng thể bản đồ sao nên được xem xét đến” (Dwyer 1985, tr.1). Như Perry chỉ ra “không phần nào trong bản đồ sao có thể phân tích riêng rẽ … bởi mọi thứ đều tác động đến nhau” và “bạn không thể quan sát theo kinh nghiệm thuần một [yếu tố chiêm tinh] tách biệt với những yếu tố khác trong bản đồ sao” (Perry năm 1993, tr.6; Vaughan 1998). Nhưng các chiêm tinh gia lại bất đồng về việc yếu tố riêng lẻ nào là quan trọng, thế nên họ cũng bất đồng về việc yếu tố nào cấu thành nên toàn thể bản đồ sao; họ chỉ đồng ý rằng, dù các yếu tố đó có là gì đi chăng nữa, việc quan trọng là lưu tâm đến chúng khi phân tích bản đồ sao. Trong lúc ấy Van Rooij (1994) băn khoăn:

Thế nào gọi là toàn thể một bản đồ sao? Dù mười hành tinh, mười hai cung hoàng đạo, mười hai nhà, các trung điểm, các điểm số mệnh Ả-rập, giao điểm của mặt trăng, góc hợp và mọi khái niệm chiêm tinh khác đều được đem vào sử dụng, thì phân tích một bản đồ sao hoàn chỉnh cũng là chuyện bất khả. Khi các chiêm tinh gia cho rằng họ đang phân tích trọn vẹn bản đồ sao, thì thật ra họ chỉ đang phân tích nhiều hơn là một yếu tố trong bản đồ sao. Tuy nhiên, bất kể bao nhiêu yếu tố được sử dụng, nó vẫn là một con số bị hạn chế, và do đó vẫn chỉ là một phần trong cả bản đồ sao. Họ không bao giờ phân tích trọn vẹn một bản đồ sao cả. Trong trường hợp này, câu hỏi được đặt ra là: bao nhiêu yếu tố cần được xem xét, và đó là những yếu tố nào?… Giả sử tôi cho đó là 20 yếu tố, khi ấy chắc chắn sẽ có một chiêm tinh gia xuất hiện và bảo rằng tôi nên dùng 21 chứ. (tr.56)

Các quyết định của chiêm tinh gia về việc sử dụng những gì trong bản đồ sao của họ hoàn toàn là những quyết định tuỳ ý. Vài chiêm tinh gia sử dụng cả tiểu hành tinh. Như Hand (1981) chỉ ra, kích thước của một thiên thể không liên hệ gì đến ảnh hưởng của nó trong chiêm tinh học, do đó “vấn nạn chính là có hàng ngàn tiểu hành tinh ngoài kia cùng những thiên thể không được xếp loại vào tiểu hành tinh xoay quanh mặt trời, và sử dụng các kĩ thuật chiêm tinh ngày nay thì không thể nào xét được hết tất cả bọn chúng trong một bản đồ sao” (tr.93). Có những chiêm tinh gia khác sử dụng những hành tinh trên giả thiết như Vulcan và Lilith, những hành tinh chưa được khám phá ra bởi các nhà thiên văn học (Hand 1981, tr.95). Không có bằng chứng nào cho thấy các chiêm tinh gia sử dụng tiểu hành tinh hay hành tinh giả thiết sẽ có cái nhìn sâu sắc hơn hoặc tư vấn thành công hơn những người sử dụng “bản đồ sao không hoàn chỉnh”, hay hơn các nhà tư vấn tâm lý hoặc thậm chí nhà trị liệu không chuyên không dùng đến các phương pháp chiêm tinh (Dean 1985; McGrew & McFall 1992).

Làm thế nào để các bộ phận khác nhau cho ra cùng một tổng thể hoàn chỉnh?

Vấn đề này càng trầm trọng hơn khi chúng ta nhớ ra rằng chiêm tinh học Tây phương đầy mâu thuẫn lại đưa vào sử dụng những yếu tố khác biệt nhau. Và ngay cả khi những yếu tố giống nhau được sử dụng, chúng thường được cân nhắc một cách khác biệt. Nếu như những trường học chiêm tinh khác nhau sử dụng những yếu tố chiêm tinh khác nhau và do đó dẫn đến những khái niệm khác nhau về “tổng thể bản đồ sao”, thì bất kỳ sự tham khảo nào về giả thiết “tổng thể bản đồ sao” thông thường, đều ít có ý nghĩa.

Perry (1995a) đã phát biểu “mỗi hành tinh và mỗi cung hoàng đạo đều bị ảnh hưởng bởi tổng thể mà nó cấu thành” (tr.34). Nhưng nếu tổng thể bản đồ sao của chiêm tinh gia này và tổng thể bản đồ sao của một chiêm tinh gia khác bao gồm những yếu tố khác biệt nhau về loại hoặc số lượng, kết quả cuối cùng (dựa theo những gì Perry nói) chắc hẳn phải là một câu hỏi mở. Như thể chúng ta nghĩ mình đang cùng bàn luận về một vấn đề, nhưng sau khi suy xét mới nhận ra, tôi thì đang nói đến Volkswagen, bạn thì đang bàn về Cadillac.

Được này, mất kia

Bên cạnh đó, tác phẩm của các chiêm tinh gia (thường thấy trong chính tác phẩm lên án việc sử dụng một yếu tố riêng lẻ) liên tục làm trái châm ngôn này. Chúng luôn nghiêng về những yếu tố riêng rẽ không chọn lọc. Chúng ta đọc được trong phỏng vấn Phillipson (2000), “Sao Thổ thật sự tương quan với sự thất bại trong việc nhận thức được nó” (tr.80), “Khi tôi có sao Hoả ở gần trục thập tự, tôi biết mình sẽ trải qua một ngày sôi nổi” (tr.81), và Mặt trăng vuông góc sao Hoả được liên kết với những người làm việc cật lực (tr.93). Các chiêm tinh gia liên tục chọn một yếu tố riêng lẻ ra khỏi một tổ hợp lớn những yếu tố trong bản đồ sao (thường không xét đến những yếu tố mâu thuẫn nhau) để giải thích cả những việc đang xảy ra hoặc những việc đã xảy ra rồi.

Ví dụ, Wolfstar (2000) giải thích mâu thuẫn mà Harrison Ford và vợ của ông đang mắc phải là do “kẻ gây rối Thiên Vương”, được biết đến như là “hành tinh ly dị”, bởi vì “Trong năm qua, Thiên Vương đã tạo góc đối đỉnh với sao Hoả của Harrison Forrd … đây là mâu thuẫn chính dẫn đến sự chia ly của ông với vợ mình.” Nếu như mâu thuẫn trong cuộc hôn nhân của Harrison Ford không xảy ra, Wolfstar và các chiêm tinh gia khác sẽ không gặp khó khăn gì trong việc tìm kiếm các yếu tố chiêm tinh chỉ ra một cuộc hôn nhân mãn nguyện.

Thoắt ẩn thoắt hiện

Lấy ví dụ, khi Suzanne Lilley-Harvey (1981), một chiêm tinh gia hàng đầu của Anh, so bản đồ sao của Thái tử Charles và Công nương Diana trước khi đám cưới diễn ra, bà thấy được “những nền tảng chủ yếu của một mối quan hệ … hài hoà trong giao tiếp … thu hút về mặt giới tính … cảm xúc và quan hệ xã hội tương đồng nhau … liên kết xã hội-văn hoá-tâm linh mạnh mẽ … ực kỳ hấp dẫn đối phương và lãng mạn … khả năng làm việc cùng nhau bằng những phương pháp rất thực tế.” Điều này không ngăn được Campion (1993, tr.154) một chiêm tinh gia hàng đầu khác ở Anh, sau cuộc chia ly của họ, thấy được trong cùng cặp đôi bản đồ sao ấy, chỉ có bi kịch, sự căm phẫn, chống đối, và tai ương. Sự tương thích tuyệt vời kia đã không được nhìn thấy nữa.

Bài có thể cùng chủ đề:  Chiêm tinh học hiện đại: Sự hư cấu bất thành (2/3)

An toàn trong số lượng

Nói cách khác, do số lượng khổng lồ của các yếu tố, một sự tương ứng hoàn hảo luôn có thể được tìm thấy ở bất kỳ bản đồ sao, bất kỳ con người hay bất kỳ sự kiện nào. Không gì dễ hơn việc chọn nhặt ra những biểu tượng sao cho trùng khớp với hoàn cảnh, hay niềm tin và mong muốn chủ quan của các chiêm tinh gia. Như ví dụ sau, mười chiêm tinh gia đầy triển vọng đã được hỏi về dự đoán của họ rằng ai sẽ ở trong Nhà Trắng sau năm 2000 trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ; kiểm nghiệm trên bản đồ sao của Gore và Bush, mỗi chiêm tinh gia tìm thấy nhiều chỉ dẫn phức tạp cho ứng viên tiềm năng của họ. Bốn người dự đoán phần thắng thuộc về Gore, bốn người thiên về Bush, và hai người từ chối đưa ra dự đoán (Stariq 2000). Một bản đồ sao nhìn chung cho ra những tổ hợp hành tinh với vô vàn dự đoán mâu thuẫn hoặc những diễn giải sau-khi-sự-kiện-đã-xảy-ra, vậy nên không nghi ngờ gì khi chiêm tinh ra cho rằng chiêm tinh “hiệu quả” ở bất cứ nơi đâu.

Chiêm tinh học hiệu quả?

Vậy nên khi chúng ta được bảo bởi các chiêm tinh gia rằng “chiêm tinh học hiệu quả”, chúng ta không chắc chắn được sự hiệu quả ấy có thể dùng để làm gì. Ghi chú 13 Một điều quan trọng cần lưu ý là khẩu hiệu “chiêm tinh học hiệu quả”, được đề xướng bởi các chiêm tinh gia, che giấu dưới nó một lượng lớn những vấn đề. Thứ nhất, chiêm tinh học không phải là một loài động vật, mà là một tổ hợp đa dạng những phương pháp mâu thuẫn nhau, những lý thuyết chồng chéo nhau, những thế giới quan đối lập nhau, và những nhận định xung khắc nhau về những gì chiêm tinh có thể và không thể. Thứ hai, việc những chiêm tinh gia trong mọi cuộc thuyết phục đều trích dẫn những chứng nhận và câu chuyện như là bằng chứng cho các phiên bản chiêm tinh rất đỗi bất nhất của họ, cho thấy rằng những yếu tố phi-chiêm tinh có thể giữ một vai trò rất lớn trong thành công thấy được của các chiêm tinh gia (xem Kelly 1999, tr.43, chú thích 6; đồng thời, Dean, Kelly & Mather 1999). Thứ ba, “chiêm tinh hiệu quả” có ý nghĩa được dịch chuyển trong phạm vi từ “chiêm tinh là chính xác” đến “khách hàng được thoả mãn”, thế nên đó cũng là một nhận định mơ hồ tối nghĩa. Ghi chú 14

5. Vấn đề với căn nguyên của những tư tưởng chiêm tinh

Một thắc mắc chính đáng ở đây băn khoăn về việc những kết nối chiêm tinh đã được thành lập như thế nào. Ví dụ, tại sao các chiêm tinh gia lại nói “Trăng tròn ở Kim Ngưu là thời gian tốt để để tâm đến tuyến giáp của bạn” hay “Tránh du lịch khi chủ nhà 9 đang tạo một góc hợp căng thẳng với hành tinh khác” (Stariq 2000), hay “Phụ nữ du lịch ở vùng tương ứng với sao Hoả của họ sẽ có cuộc gặp gỡ với đàn ông” (Phillipson 2000, tr.99), hay “Hải Vương liên quan đến tình yêu vũ trụ, tâm linh, giấc mơ và thuốc an thần” (Equinox Astro 1999)? Hầu hết các chiêm tinh gia đặt bút như thể giáo lý của chiêm tinh được dựa trên hình thức “kinh nghiệm quy nạp”, cơ sở mà ở đó sự tương quan giữa bầu trời và trần thế đã được quan sát trong hằng ngày tập luyện. Elwell (1994, tr.24) phát biểu “Quá trình quan sát, sàng lọc và xác nhận, chính là cách thức để chiêm tinh học được xây dựng qua nhiều thế kỷ.”

Để kiểm tra cuộc tranh luận này dễ dàng hơn, đầu tiên chúng ta hãy xem xét một nhận định chiêm tinh tương đối thẳng thắn, và khảo sát xem các chiêm tinh gia khác giải thích nó như thế nào. Dựa theo chiêm tinh học truyền thống, các hành tinh được liên tưởng đến những tính cách nhất định, ví dụ, Thiên Vương được liên kết với sự sáng tạo và độc lập. Làm cách nào để các chiêm tinh gia khám phá ra điều này? Gauquelin (1980) và Startup (1981) đã mô tả năm nguồn gốc phù hợp được các thành viên trong cộng đồng chiêm tinh mực thước chọn ra. Trong phần sau đây, tôi sẽ mô tả mỗi nguồn gốc, chủ yếu dựa trên sự thấu hiểu của Starup để kiểm tra nó đến cùng:

Nguồn gốc 1: Sự soi rạng bởi một trí tuệ siêu phàm

Ví dụ như bởi chúa trời, thiên thần, ma quỷ, hoặc sự sống ngoài hành tinh. Pat Harris (trong Phillipson 2000, tr.17) cho rằng chiêm tinh học có thể có nguồn gốc từ những bản thể linh thiêng trú ngụ trên trái đất và trước thời kỳ Atlantis. Ngoài chuyện tha thiết đề nghị đặt vấn đề ngay từ đầu về sự tồn tại của những bản thể này, giải thích những điều kỳ bí bằng những điều kỳ bí khác không giúp chúng ta có thêm được tiến triển gì. “Đến nay chúng ta vẫn chưa được giải thích tại sao những người ngoài hành tinh có được trí tuệ đó” và thế nên nó chỉ đẩy vấn đề sang một chỗ khác (Startup, tr.26). Không rõ như thế nào mà ý kiến này lại được duyệt qua.

Nguồn gốc 2: Phương pháp tâm linh

Điều này giả định rằng năng lực tâm linh có khả năng thiết lập các mối quan hệ vượt xa những tuyên bố của các nhà nghiên cứu những điều huyền bí. Hơn nữa:

cụ thể là khả năng tâm linh nào sẽ được khơi gợi? Chắc chắn thần giao cách cảm không có ích gì ở đây vì trước sự thành lập của hệ thống hình học, không có tâm trí nào để đọc cả. Khả năng nhìn thấu cũng mơ hồ tương tự vì khá khó khăn để tưởng tượng được giai đoạn nào của vấn đề không hiển thị dưới tri giác bình thường mà có thể được nhìn thấu một cách siêu nhiên. Chỉ còn lại thuật tiên tri … nhưng có lẽ nó đòi hỏi ở các chiêm tinh gia cổ đại phần nào nhìn thấy được kết quả của các phát minh hiện đại, mà những phát minh hiện đại lại được truyền cảm hứng, dù là gián tiếp, bởi tầm nhìn của các tiền nhân cổ đại. (Startup 1981, tr.26).

Ngoài ra còn có những vấn đề khác. Chúng ta khám phá được gì bởi phương pháp siêu nhiên? Có một “năng lượng” phát ra từ các thiên thể trên kia? Những gì dò tìm được một cách siêu nhiên liên hệ như thế nào đến những gì dò tìm được thông qua nhận thức bình thường? (Ví dụ, nếu chúng ta khám phá ra được những cung năng lượng xung quanh, làm cách nào để chúng ta biết được đó không phải là những gì chúng ta nhìn thấy bằng mắt thường như sao Hoả?) Làm thế nào chúng ta biết được rằng có một sự tương quan giữa những gì bình thường và những gì dị thường? Bởi những phương pháp siêu nhiên? – Điều này đang nhân đôi lên vấn đề! Bằng những phương pháp bình thường? Nếu thế, tại sao chúng ta không thể nhận biết những gì siêu nhiên thông qua cửa ngõ bình thường?

Nguồn gốc 3: Sự tương đồng với vẻ ngoài của các hành tinh

Startup soạn thảo kỹ lưỡng về phỏng đoán này:

Có vẻ tư tưởng ở đây là, khởi thuỷ của các hình mẫu hành tinh bắt đầu với lý thuyết đơn giản rằng các hành tinh ảnh hưởng lên tính cách con người và xuất hiện công cuộc khám phá xem những ảnh hưởng đó là gì, họ ghi nhận vẻ ngoài thô mộc của các hành tinh và phân tích những dáng vẻ này tương đồng với tính cách cá nhân. Francoise Gauquelin đưa ra một lời phân tích điển hình về cách mà người xưa được cho là đã suy nghĩ: “sao Mộc to lớn và chói loà tượng trưng cho tài năng, sao Hoả đỏ hung tượng trưng cho lửa và chiến tranh, sao Kim xanh nhạt gợi đến sự dịu dàng, màu vàng tro của sao Thổ liên tưởng đến sự cách biệt và tuổi già, vân vân.” (tr.26-27)

Startup cho rằng những suy luận trên chưa chắc đã là nguồn gốc của những tính cách cá nhân được liên kết theo chiêm tinh học với các hành tinh:

Mỗi hành tinh có nhiều điểm đặc thù có thể nhìn thấy bằng mắt thường, vậy làm thế nào mà người Babylon biết được đặc điểm nào là xác đáng? … Sao Kim (và vài hành tinh khác) biến đổi khá nhiều dưới ánh sáng nhìn thấy được, song không được cho là dễ thay đổi trong tính cách. Mặt trời, và cả mặt trăng, hiển nhiên khác biệt những hành tinh khác trong diện mạo, tuy nhiên tính khí được liên tưởng bởi hai nguồn sáng này vẫn nằm trong cùng thứ bậc với các hành tinh khác. Sao Mộc tương đối lớn và sáng, độ sáng đó có thể gợi đến tài năng nhưng [so với mắt thường] sao Kim xuất hiện với vẻ ngoài thậm chí còn lớn và sáng hơn (Startup 1981, tr.27).

Ngoài ra, hình tượng về các tiền nhân cổ đại, những người được các chiêm tinh gia thú nhận là ngưỡng mộ như những học giả, không hề được tâng bốc:

Sự việc đòi hỏi chúng ta phải tin rằng các học giả thời Babylon tiến triển theo một cách hoàn toàn không có hệ thống và sự nhất quán. Giả thiết được đưa ra rằng các hành tinh đã được phán đoán bởi một mớ hỗn hợp các loại đặc điểm khác nhau, Mặt trăng bởi các pha của nó, sao Hoả bởi màu của nó, sao Mộc bởi kích thước và độ sáng, sao Thổ bởi tốc độ và vân vân (Startup 1981, tr.27).

Trong khi kiến thức có thể được vẽ ra bởi những kinh nghiệm pha tạp, lấy ví dụ, thảo dược phổ biến của Trung Quốc phần lớn được rút ra bởi quá trình kinh nghiệm muôn màu muôn vẻ không hệ thống, những nhận định như vậy có thể được dò ra và chứng minh bởi chính những nghiên cứu mà các chiêm tinh gia thận trọng tránh xa nhất (Allen 2001). Hơn nữa, cơ chế tương đồng với việc chọn lọc tự nhiên trong việc sàng lọc những phương pháp và giả thiết chiêm tinh yếu kém với những phương pháp và giả thiết tốt hơn là gì? Như chiêm tinh gia McDonough (2000) than phiền:

Có ai không mơ hồ và choáng ngợp bởi sự dư thừa kỹ xảo trong các ngón lừa của chiêm tinh? … Tại sao chúng ta lại có một mớ đồ sộ, khó hiểu về những yếu tố phải giải quyết? Vì chúng ta không có cách nào để vứt đi bất cứ thứ gì.

Nguồn gốc 4: Quan sát

Perry (1993) cho biết:

Những người dõi theo trăng sao từ thời cổ xưa đã ghi lại một cách hệ thống quan sát của họ về những chuyển động trên trời và tương quan chúng với quan sát về những gì xảy ra trên mặt đất. Thông qua những phân tích quy nạp tiếp diễn, những nhà khám phá đầu tiên này dần dần đạt đến những kết luận nhất định, cũng như ý nghĩa của những lần thay đổi và truyền lại chúng cho hậu thế (tr.2).

Tương tự như vậy, Harding (2000, tr.29) đưa ra ý kiến:

Tôi không cần lý thuyết về bản đồ sao để diễn giải nó, tôi đơn thuần chỉ cần nhận thức rằng người có sao Hoả ở X và sao Kim ở Y thường thể hiện theo nhiều cách khác nhau … Sau cùng, tôi cần phải giải thích tư tưởng của tôi về thế giới trong khía cạnh thế giới như thế nào. Tôi có thể có vài ý tưởng tuyệt vời về mối quan hệ giữa sao Kim và sao Hoả, nhưng “bằng chứng” của tôi sẽ nói dối … ngoại trừ vị trí của bản thân hành tinh ấy và những gì tai nghe mắt thấy tới những người sinh ra ở thời điểm đó.

Một hình thức phổ biến của kịch bản này là, người cổ đại, trong quá trình thu thập dữ diệu cả về bầu trời lẫn trần thế, bắt đầu chú ý đến mối quan hệ giữa sự thể hiện của tính cách và cách hoạt động của các hành tinh. Các tính cách cá nhân liên quan đến những hành tinh nhất định đồng thời cũng được chú ý rằng chúng có sự tương đồng với những vị thần liên quan nào đó. Trên căn cứ của sự tương đồng này, người cổ đại bắt đầu đối chiếu tên của các vị thần đến những hành tinh. Như Startup (1981, tr.28) chỉ ra, điều này khoác lên mình hình thức nguyên thuỷ, lý luận nhất (thiên về quan sát, trung tính về mặt lý thuyết) của khoa học.

Tuy nhiên, sự quan sát, ngay cả ở trình độ thấp, cũng không hoàn toàn trung tính về mặt lý thuyết bởi những gì chúng ta nhìn thấy bị ảnh hưởng bởi những gì chúng ta kỳ vọng (ít nhất ở một mức độ nào đó). Trong khi lời phát biểu về sự có mặt hoặc vắng mặt của một con chó dưới gầm giường bao hàm một lượng tối thiểu nội dung lý thuyết, lời phát biểu về sự hiện hữu hoặc thiếu vắng neutrino bao hàm một lượng lý thuyết nhiều hơn. Trong trường hợp về tính cách, tại sao ta chỉ nhìn vào chỉ dẫn của các hành tinh ngay từ ban đầu mà không phải là nhìn vào một nơi nào khác? Nếu như tất cả người cổ đại tiếp cận với thế giới xung quanh họ theo cách trung tính về mặt lý thuyết, chúng ta sẽ không có nhiều niềm tin đa dạng về thế giới như bây giờ.

Thực vậy, từ giả thiết này, giá như mà người Babylon (mà không phải là ai khác) chú ý được rằng mối quan hệ câu nệ giữa tính cách và hành tinh mà họ đặt ra sẽ đóng một vai trò lớn trong đời sống con người, mọi thứ có thể sẽ đặc biệt hơn! Một vấn đề nữa là, quy tắc cơ bản thứ hai của chiêm tinh nói rằng mọi yếu tố chiêm tinh không thể được phân tích riêng lẻ, bởi mọi thứ đều tác động đến nhau. Bởi khái niệm đó, liên kết riêng lẻ giữa hành tinh và hoạt động của con người ngay từ đầu lẽ ra đã không thể quan sát được.

Nguồn gốc 5: Lý thuyết

Lý thuyết nói rằng các hành tinh là biểu tượng của những vị thần và có tác động thế tục tương tự như những vị thần cùng tên, điều đó dẫn đến những cặp đôi hành tinh-thần thoại mà trong đó, hành tinh được truyền lại những tính chất của vị thần tương ứng. Đây là quan điểm trái ngược với ý vừa rồi. Khi nãy chúng ta có quan sát dẫn đến lý thuyết. Giờ đây chúng ta có điều ngược lại:

Các vị thần Babylon đã “tồn tại” từ lâu trước khi tên của họ được đặt cho các hành tinh. Người Babylon cổ đại đã tạo ra một lý thuyết cho rằng hành tinh chính là các vị thần, hoặc biểu trưng cho các vị thần, và do đó ảnh hưởng của chúng lên trần thế cũng tương tự như các câu chuyện mà các vị thần trải qua. Vì vậy, để khám phá ra những ảnh hưởng của mỗi hành tinh, tất cả những gì họ cần làm là tìm được cặp đôi chính xác giữa hành tinh và thần thoại. Trong giải thích này, khả năng quan sát được sử dụng để kiểm tra sự tương thích giữa cặp đôi được đề xuất, khi cặp đôi đầu tiên được chứng minh là không thích hợp, nó có thể được tái đề xướng một phỏng đoán và quá trình quan sát mới (Startup 1981, tr.30-31).

Như Startup khẳng định, một vấn đề nghiêm trọng ở đây là “mỗi yếu tố trong bản đồ sao đưa ra duy nhất một dấu hiệu yếu ớt lẫn chìm trong sự ồn ã … [vậy nên] những dấu hiệu đó được kiểm chứng như thế nào vẫn là một chuyện mơ hồ” (tr.31). Một phương án được đưa ra về vấn đề này, mượn đến một thứ mà Startup gọi là “lọc nhiễu tập thể”. Có thể có những nhóm chiêm tinh gia nghiên cứu, một cách chi tiết, về một trong các hành tinh và “phản hồi kết quả từ quá trình suy nghĩ và nghiên cứu của họ tới một nhóm chiêm tinh gia khác đã thảo luận vấn đề trên trong một thời gian dài” (tr.32). Qua thời gian, những nhóm nhỏ dần dần sàng lọc được phần lý thuyết có giá trị. Startup chỉ ra rằng quá trình này dường như khởi phát với một sự đúng đắn ngay từ đầu, bởi nhiều nền văn hoá trước đó có thể đã trải qua quá trình tương tự để tìm hiểu về những thứ như thuốc kháng sinh trước khi con người hiểu được lý do và cách thức hoạt động của nó. Tuy nhiên, ở đây xuất hiện một cú nhảy lớn từ sự tạo ra những liên kết quan sát được về việc xem hình dáng bên ngoài (của các hành tinh) như là những ảnh hưởng lan truyền tới việc kết đôi những thuộc tính tính cách phức tạp với những hành tinh và các vị thần.

Phải nói thêm rằng, thậm chí những lý thuyết sai lầm cũng có thể tồn tại lâu dài khi nó phục vụ cho lợi ích chính trị và được chống lưng bởi những bè phái uy quyền. Các chiêm tinh gia, theo dòng lịch sử, đã dùng môn nghệ thuật của họ như một công cụ tuyên truyền cho nhiều đảng phái chính trị. Đơn cử như vào thế kỉ 17, chiêm tinh gia William Lilly đã viết nên một cuốn sách nhỏ đả phá Charles Đệ Nhất bằng cách chọn ra bất cứ yếu tố chiêm tinh nào phù hợp với chủ đích của ông (Geneva 1995). Sự linh hoạt trong diễn giải của biểu tượng chiêm tinh và ý tứ đa dạng của nó đã cho phép các chiêm tinh gia tham dự bất kì chiến tuyến nào trong chính trị, qua đó đảm bảo được sự chống đỡ và tồn tại của chiêm tinh học.

Thiếu minh chứng tài liệu

Như Startup nêu ra, rằng không “đủ tài liệu về các dữ kiện xác đáng [xung quanh việc các chiêm tinh gia đã hoạt động sớm như thế nào] để khiến việc suy đoán thôi bức thiết” (tr.33) và sự suy đoán không phải là một giải thích thoả đáng cho mọi việc. Startup kết luận tất cả những lời giải thích được đưa ra đều mang tính đối phó và không phải là câu trả lời thoả mãn. Nói cách khác, chiêm tinh gia truyền thống không thể giải thích hợp lẽ cho căn nguyên của một nhận định tương đối thẳng thắn về mối quan hệ giữa hành tinh và tính cách con người.

Chúng ta đang phải đối mặt với con số nào?

Nhưng các chiêm tinh gia cho rằng họ đã khám phá ra được nhiều mối quan hệ đa dạng và phức tạp giữa con người và vũ trụ hơn là chỉ mối quan hệ giữa hành tinh và tính cách. Đó là một con số lớn không tưởng, nhưng vẫn được xác định, về các tổ hợp hành tinh khả dĩ mà các chiêm tinh gia đã tự tiện loại trừ đi những thành phần nhất định. Cụ thể, họ có thể quyết định bỏ đi các mặt trăng của sao Mộc, hoặc sự góp mặt riêng lẻ nào đó của 10²² ngôi sao trong vùng vũ trụ mà chúng ta có thể thấy được (chúng có thể nhiều hơn nhưng không đủ sáng để chúng ta có thể nhìn thấy), và tương tự.

Điều này vẫn để lại một con số khổng lồ về các kiểu kết hợp hành tinh cần xem xét khi phân chia ra kiểu nào có hiệu lực trong chiêm tinh học và kiểu nào thì không. Và bằng cách nói khổng lổ, ý của tôi là nó thật sự khổng lồ — vì ngay cả ở mức độ cơ bản với mười hành tinh (để thuận tiện, chiêm tinh gia xem mặt trăng và mặt trời như là những hành tinh), mỗi trong số chúng có thể xuất hiện ở mười hai cung và mười hai nhà, và tạo nên chín loại góc hợp (0°, 30°, 60°, 45°, 90°, 135°, 120°, 150°, 180°) với chín hành tinh còn lại.

Tuy nhiên, tổng số kiểu kết hợp mà mỗi hành tinh tạo được không đơn giản là 12 x 12 x 9 x 9, nói cách khác tổng số kiểu kết hợp của mười hành tinh tạo được cũng không phải là 10 mũ (12 x 12 x 9 x 9) hay 10⁴⁰. Bởi mỗi sự kết hợp hành-tinh-trong-cung trực tiếp giới hạn khả năng kết hợp của nhà và góc hợp (ví dụ, hai hành tinh ở cùng một cung không thể nằm ở hai nhà đối diện hay tạo với nhau góc 180°), và vài sự kết hợp hành-tinh-trong-cung phải được loại bỏ (ví dụ, sao Thuỷ không bao giờ quá cách xa Mặt trời, và các hành tinh vòng ngoài di chuyển quá chậm để có thể tính đến tất cả các kết hợp của nó, trừ khi khoảng thời gian được tính là hàng ngàn năm).

Thay vào đó, tổng số đúng hơn phải là 10²⁸ các kiểu kết hợp, hình dung chính xác về chúng phụ thuộc vào vị trí địa lý, hệ thống nhà, và chu kỳ thời gian. Điều này, dĩ nhiên, chỉ dành cho các yếu tố cơ bản trong chiêm tinh: nhiều chiêm tinh gia sẽ sử dụng thêm các yếu tố, thường là đa dạng hơn, ví dụ như, các trục, trung điểm, nghịch hành, và các tiểu hành tinh. Thật vậy, một chiêm tinh gia Mỹ (không cung cấp số liệu chi tiết về sự tính toán của mình) cho rằng con số tổng cộng của các kiểu kết hợp là 5.39 x 10⁶⁸ (Doane 1956, tr.1). Và con số này khiến 10²⁸ trở nên thật nhỏ bé. Nhưng để in ra dù là 10²⁸ diễn giải cho các kiểu kết hợp, và mỗi diễn giải tối giản chỉ một dòng cũng đòi hỏi một lượng giấy chất ngất và nặng bằng quả Đất.

Tính phức tạp khiến việc quan sát trở thành bất khả

Thêm nữa là, vấn đề của chúng ta giờ chỉ mới bắt đầu. Bởi vì chúng ta không được phép cân nhắc riêng lẻ từng yếu tố, giờ đây chúng ta phải liên hệ trực tiếp từ số lượng khổng lồ các kiểu kết hợp kia đến vô vàn phương thức hành động của con người. Hiển nhiên là nó không thể được thực hiện. Nói các khác, lý thuyết chiêm tinh không thể có khả năng được dựa trên sự quan sát hay dựa trên các kiểm nghiệm về tư tưởng chiêm tinh xuất phát từ thánh thần. Một rắc rối khác chính là sự quan trọng của nơi sinh trong việc xây dựng nên một bản đồ sao. Không có bằng chứng nào cho thấy các chiêm tinh gia tiền nhân đã, hoặc có thể đã, thực hiện kiểu nghiên cứu cần thiết để kiểm tra tư tưởng này, những kiểu nghiên cứu mà trong thời kỳ hiện nay còn là một vấn đề khó khăn. Vì những nhận định này trở nên vô cùng bất ổn, chúng ta có thêm lý do thiết thực để loại bỏ những nhận định phức tạp hơn dựa trên cùng hệ lý thuyết này.

Chúng ta không thể thoát khỏi vấn đề nan giải này bằng cách tập trung vào chỉ một hoặc hai yếu tố riêng lẻ, bởi sự ràng buộc của quy tắc cơ bản thứ hai (chỉ phân tích tổng thể bản đồ sao). Nhưng ngay cả khi chúng ta phá vỡ quy tắc và nhìn vào những yếu tố đơn nhất, chúng ta vẫn còn những rắc rối để giải quyết. Giả sử như chúng ta nhận thấy rằng, ngoài 10²⁸ kiểu kết hợp của các hành tinh, những người sinh ra với Mặt trời Bảo Bình tạo góc hợp với sao Thổ trong nhà 12 thường kín kẽ, nhưng những người có Mặt trời Bảo Bình tạo góc hợp với sao Thổ trong nhà 11 lại quảng giao. Trong xã hội nhìn chung, những người dù kín kẽ hay quảng giao cũng đều phổ biến, nhưng những người sở hữu đặc biệt tổ hợp kia lại tương đối ít hơn. Sự ghép đôi sai lệch trong những gì xảy ra khiến cuộc tìm kiếm của chúng ta không truy được đến bất kỳ ý nghĩa rõ ràng nào. Ngay cả khi chạm được, những vấn đề của chúng ta vẫn chưa dừng lại ở đó.

Những yếu tố chiêm tinh giống nhau được cho là có thể liên kết với nhiều sự việc khác nhau, bao gồm cả khía cạnh tích cực hoặc tiêu cực, và có thể được thể hiện theo tất cả các cách. Cụ thể như, sao Hoả cùng Hải Vương có thể ám chỉ sự thôi thúc của lòng vị tha để thực hiện nên những hành vi thiện nguyện, hoặc, sự thất vọng và giận dữ (Vaughan 2000b). Diễn giải của chúng ta về ý nghĩa của những yếu tố trong bản đồ sao hơn nữa cũng được đo lường bởi những yếu tố thực tế khác như giới tính, sự chín chắn, tuổi tác, văn hoá và những điều tương tự. Ngoài ra, một tổ hợp hành tinh còn có thể hàm chứa nhiều ý nghĩa khác nhau tuỳ thuộc vào việc chúng ta đang nói về một con người, một con chó, một công ty, một đất nước hay một quan điểm. Thành thử, chúng ta có phức tạp chất chồng lên phức tạp chất chồng lên phức tạp.

Sự đáng ngờ cực độ (nếu không muốn nói là bất khả dĩ) của các tiền nhân trong việc tương quan những khía cạnh đa dạng, phức tạp, đầy ẩn ý của hiện thực vào một khối toàn diện củng cố sự hoài nghi của chúng ta về việc chiêm tinh học có không một nền tảng bất kỳ trong việc quan sát, và, trên cùng phương diện, các nhận định chiêm tinh không thể được chắt lọc qua thời gian bởi bất kỳ chuỗi thủ tục thực nghiệm nào. Ghi chú 15

Phần sau
__

Dịch từ  The Concepts of Modern Astrology: A Critique với sự đồng ý của tác giả.

Ảnh: Daily Generated Art.

Write a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *