Phê bình Chiêm tinh học Luân Hồi

A Critical Review of Reincarnational Astrology - Glenn Perry

 

Phần 1

Những Quy định về Bằng chứng

Ưu điểm chính của khảo nghiệm khoa học nằm ở tính hiệu quả của nó. Các giả thuyết có thể được kiểm tra, bảo lưu, hoặc bị loại bỏ tùy theo giá trị của chúng. Do đó, kiến thức thu được tương đối không có những giả định sai lầm. Nghiên cứu là một cách thức dùng để điều chỉnh, một quá trình sàng lọc trí tuệ để loại bỏ những ngụy biện, lừa dối, và những sai sót chung trong tư duy để chúng không làm xáo trộn khối kiến thức chúng ta đã tích lũy và dẫn chúng ta đi chệch hướng.

Nghiên cứu còn đảm bảo sự phát triển của kiến thức bằng cách ngăn không cho nó sa lầy bởi lòng trung thành với các trụ cột trong quá khứ. Lịch sử đã minh chứng rằng vô số người thông thái và tiếng tăm đã đơn giản gặp sai lầm trong niềm tin của họ. Bằng cách xác minh niềm tin của mình thông qua phương pháp nghiên cứu thích hợp, niềm tin đó có thể được xác nhận hoặc bác bỏ. Mục đích của nghiên cứu không phải để chứng minh sự đúng đắn hay sai lầm cuối cùng của một học thuyết đã cho, mà để tác động đến ngưỡng niềm tin của chúng ta. Cách tiếp cận phê bình và suy xét đến kiến thức đảm bảo rằng “sự thật” của chúng ta sẽ tiếp tục triển nở.

Khoa học bắt đầu bằng một nhận thức nghi ngờ đi kèm với niềm tin vào khả năng giải đáp nghi ngờ đó. Một khi câu hỏi đã được đặt ra, có ba bước căn bản trong nghiên cứu khoa học: (1) điều tra các dữ kiện thích hợp, (2) tạo ra tiền đề hoặc giả thuyết để giải thích quy tắc đã quan sát được trong dữ kiện, và (3) thử nghiệm giả thuyết thông qua phương pháp phù hợp. Ví dụ như, một chiêm tinh gia đặt ra vấn đề, trải nghiệm nào tương đương với Diêm Vương hiện thời đi qua Mặt trời trong bản đồ sao gốc? Để trả lời câu hỏi này, chiêm tinh gia đó có thể: (1) khảo sát trải nghiệm thực tế của nhóm người có quá cảnh này; (2) xây dựng một giả thuyết dựa trên những tính chất của các trải nghiệm thu được; và (3) kiểm tra giả thuyết bằng cách thực hiện phỏng vấn với hai mươi người đã trải qua quá cảnh để xem liệu trải nghiệm thực sự của họ xác lập hay bác bỏ giả thuyết đã đặt ra.

Liên quan đến bước đầu tiên – điều tra các dữ kiện thích hợp – nhà nghiên cứu thu thập dữ liệu thực tế để chuẩn bị cho việc hình thành giả thuyết vẫn còn ở tình trạng sơ bộ giai đoạn này. Những bản báo cáo sẽ được lập nên từ những dữ liệu thực tế, tạo thành “bằng chứng” để củng cố giả thuyết sơ bộ. Trong nghiên cứu nói trên, dữ liệu xác minh có thể lấy từ việc quan sát các sự kiện khách quan có liên hệ đến việc Diêm Vương hiện thời đi qua Mặt trời trong bản đồ sao gốc. Ví dụ như sự kết hợp ấy có thể liên quan đến việc một người sẽ chạm trán với cái chết theo một cách nào đó. Một khách hàng của tôi cho biết vợ ông được chẩn đoán mắc bệnh ung thư máu trong khoảng thời gian này. Trong suốt thời gian tổ hợp ấy xảy ra, tức khoảng một năm do còn có chuyển động nghịch hành, ông đã điều hành một tổ chức hỗ trợ cho những người được chẩn đoán mắc bệnh hiểm nghèo.

Dữ liệu xác minh phù hợp với quá cảnh cũng có thể được tìm thấy trong những trải nghiệm cá nhân, chủ quan sâu sắc. Một người có thể nói, “Tôi đã phải đối mặt với những khía cạnh mà tôi không hề biết đến của bản thân. Tôi cảm giác là mình đang chết dần từ bên trong, như thể tôi ngày xưa đã không còn và một tôi mới đang được sinh ra.” Lưu ý rằng loại dữ liệu này dựa vào những trải nghiệm ta có thể trực tiếp cảm nhận, mặc dù ta không thể quan sát nó từ một điểm thuận lợi bên ngoài. Những trải nghiệm này về bản chất có tính liên chủ thể, tức là có khả năng được chia sẻ bởi nhiều người khác nhau. Hình thức, cấu trúc và ý nghĩa của hiện tượng này – Diêm Vương đi ngang qua Mặt trời – có thể được nhóm lại từ những trải nghiệm chủ quan không liên quan đến nhau. Sau đó nó có thể được chia sẻ và được xác nhận (hoặc bị chối bỏ) thông qua sự giao tiếp của các cá nhân. Do đó, mọi diễn giải về Diêm Vương đi qua Mặt trời có thể được kiểm tra bằng cách để nó va chạm với cộng đồng những người đã thực sự trải qua quá cảnh này.

Khi đã thực hiện một số lượng nghiên cứu sơ bộ thích hợp, nhà nghiên cứu có thể xây dựng một giả thuyết nghiên cứu, chẳng hạn như: Diêm Vương hiện thời đi qua Mặt trời trong bản đồ sao gốc có thể tương ứng với a) chạm trán với cái chết, b) trải nghiệm liên quan đến chữa lành, tạo mới, hoặc tái sinh và c) những cơn khủng hoảng và biến đổi bản dạng – những trải nghiệm cảm xúc sâu sắc buộc ta phải đối mặt với những phần ta chưa từng biết hoặc không thể chấp nhận của bản thân.

Bước thứ ba trong nghiên cứu – kiểm tra – là cách để loại bỏ những giả thuyết có khả năng sai lầm. Bằng cách phỏng vấn một lượng thích hợp những người đã trải qua tổ hợp chiêm tinh trên, giả thuyết được đặt ra có khả năng được xác nhận hay bác bỏ. Giả thuyết được khẳng định nếu nó ăn khớp với khung ý nghĩa của những gì mà cộng đồng trên đã trải qua, tức là, có một sự đồng thuận liên chủ thể giữa những người được phỏng vấn.

Để được công nhận là đúng đắn, một giả thuyết nghiên cứu không chỉ phải có dữ liệu đáng tin, mà còn phải giữ được sự đúng đắn đó đủ để chống lại ngọn lửa của những cuộc tranh luận liên chủ thể. Tức là, ý nghĩa của quá cảnh sao Diêm Vương đi qua Mặt trời không những phải xác tín trong những quy luật quan sát được giữa các chủ thể (những trải nghiệm khách quan và chủ quan tương đồng nhau), mà còn phải thuyết phục được nhóm người cùng tranh luận rằng những quy luật như thế không thể được giải thích tốt hơn bằng một giả thuyết thay thế khác. Nói tóm lại, việc chấp nhận một lý thuyết tùy thuộc vào mức độ chịu đựng sự phê duyệt của nó và liệu nó có vững vàng hơn so với các đối thủ cạnh tranh hay không.

Dĩ nhiên, có rất ít các diễn giải chiêm tinh, hay khung ý nghĩa, đã được chính thức kiểm tra theo cách này. Hầu hết các diễn giải về những tổ hợp trong bản đồ sao gốc, quá cảnh (transit), và tiến trình (progression) được dựa trên những đối chiếu có hệ thống nhưng lại không chính thức giữa những biến số chiêm tinh với những sự kiện quan sát được. Tuy nhiên, như đã nêu trên, điều quan trọng là liệu những diễn giải này có được kiểm tra chính thức. Hiện nay, mỗi diễn giải chiêm tinh đều tạo nên một giả thuyết tiềm năng miễn là nó có tính phản nghiệm, tức là có thể được kiểm chứng.

Tiêu chuẩn của Tính phản nghiệm

Như chúng ta đã thấy, việc khảo nghiệm cung cấp cơ chế phản chứng tiềm năng và phương tiện để các giả thuyết sai lầm có thể được bác bỏ. Trong quyển Logic của Khám phá Khoa học lừng danh của mình, Karl Popper (1959) đã tuyên bố rằng sự khác biệt cơ bản giữa định kiến và lý thuyết là định kiến thường không bị ảnh hưởng bởi các bằng chứng chống đối, trong khi các hệ thống lý thuyết luôn mở ngỏ cho sự phản biện.

Tiêu chuẩn của Popper về tính phản nghiệm chính là những mệnh đề phải được đề xuất theo hướng có khả năng phản biện. Để mang tính khoa học, một phát biểu phải được đưa ra phải có hướng phản biện đi kèm. Theo Popper, nếu không có cách nào để bác bỏ một lý thuyết, thì cũng không có cách nào để chứng minh nó. Những mệnh đề không thể tra khảo sẽ rơi vào dạng danh mục suy đoán hơn là các phát biểu khoa học có thể kiểm chứng.

Rất khó để phủ nhận rằng “quy tắc tối cao” của Popper về tính phản nghiệm đã đưa ra một cách hợp lý để phân biệt giữa lý thuyết có giá trị và suy đoán đơn thuần. Tính phản nghiệm, khả năng có thể được bác bỏ, đòi hỏi một lý thuyết phải được đưa qua tra khảo và người đề xướng nó sẵn sàng thừa nhận những phản đối hợp lý.

Nói rằng bằng chứng là huyết mạch của mọi lý thuyết thật không ngoa chút nào. Bằng chứng củng cố hay chống đối mọi giả thuyết chiêm tinh có thể có nhiều hình thức khác nhau: quan sát hành vi, phỏng vấn gia đình và bạn bè, tiểu sử, bản tin báo chí, bài viết tạp chí, quá trình làm việc, hồ sơ lao động, hồ sơ bệnh án, và những tạo tác khác như bản chi ghép (thư từ, bài viết, sách) hoặc các tác phẩm nghệ thuật. Nói tóm lại, bất cứ thứ gì một người đã nói hoặc làm đều có khả năng được ghi lại và tạo thành bằng chứng củng cố cho giả thuyết. Càng nhiều bằng chứng ủng hộ cho một giả thuyết, mức độ xác tín của nó càng cao.

Bài có thể cùng chủ đề:  Vertex: Giao lộ của Số phận

Như ta đã thấy, hầu hết các giả thuyết về chiêm tinh có thể được kiểm tra bởi nhiều phương pháp khác nhau, từ các phương pháp định lượng (thử nghiệm) sử dụng số liệu thống kê, đến các phương pháp định tính như hiện tượng học, thông diễn học, và phương pháp nghiên cứu trường hợp thực tế. Nói chung, các môn khoa học của loài người – tâm lý học và chiêm tinh học – được nghiên cứu tốt nhất thông quan các phương pháp định tính. Phương pháp định tính đúng, dù thế nào đi nữa, chính là thứ thích hợp nhất với câu hỏi và vấn đề được nêu ra.

Như đã nêu trên, bất cứ một tuyên bố chiêm tinh cụ thể nào đều tạo nên một giả thuyết nghiên cứu tiềm năng miễn là nó có khả năng phản biện, tức là có thể được kiểm chứng. Nếu không có bằng chứng có tiềm năng bác bỏ giả thuyết ấy, thì nó sẽ bị chuyển đến danh mục suy đoán đơn thuần – một tuyên bố tầm thường ít ý nghĩa hay giá trị.

Khảo nghiệm Chiêm tinh học Luân Hồi

Về chiêm tinh học luân hồi, mệnh đề để khảo nghiệm sẽ là: Thông tin về tiền kiếp có thể được xác định thông qua bản đồ sao. Để kiểm tra vấn đề này, một vấn đề cụ thể hơn phải được rút ra và nghiên cứu. Chẳng hạn như, liệu Long Vĩ có cho ta biết chút gì về tiền kiếp của một người? Bước đầu để nghiên cứu vấn đề này là thu thập các bằng chứng sơ bộ từ cuộc đời quá khứ phù hợp với ý nghĩa của vị trí Long Vĩ. Tuy nhiên, gần như ngay lập tức, nhà nghiên cứu đối mặt với vấn đề nan giải. Làm sao ta có thể tiếp cận với dữ liệu chứng cứ từ một cuộc đời đã qua, nói thẳng ra là, chẳng có bằng chứng nào?

Các chiêm tinh gia theo thuyết tiến hóa có thể đáp rằng họ không cố đưa ra thông tin cụ thể, rõ ràng về tiền kiếp, như người đó đã từng là ai, diện mạo họ như thế nào, công việc là gì, bệnh tật ra sao, hay mọi thứ cụ thể nào khác; thay vào đó, họ cố gắng xây dựng nên một câu chuyện tương tự, ẩn dụ về “động lực” của hiện thân tiền kiếp. “Động lực” ở đây có nghĩa là các khuôn mẫu cảm xúc, tâm trí, hành vi trong đời sống đó. Dẫu cho có sự hạn chế này, Chiêm tinh Luân hồi vẫn không được miễn trừ bằng chứng. Trong việc phân biệt những chi tiết cụ thể với động lực tâm lý, nhà nghiên cứu vẫn phải đối mặt với vấn đề tương tự. Để xác nhận xem liệu động lực của kiếp sống trước trong bản đồ sao đã được nhìn và hiểu chính xác, ta cần tiếp cận đến tính cách thật sự của kiếp trước, thông qua một dạng kiểm tra nào đó để xác định suy nghĩ, tính cách, và hành vi, và rồi so sánh chúng với những gì được dự đoán từ bản đồ sao. Nhưng làm sao ta có thể thực hiện điều này nếu không thể thực sự quan sát một tính cách từ tiền kiếp?

Để thực hiện điều ấy có rất nhiều khả năng. Thứ nhất là sử dụng kĩ thuật hồi quy. Mục đích là để xem liệu bằng chứng có thể được xác định từ ký ức về kiếp trước có liên quan đặc biệt đến giả thuyết nghiên cứu hay không. Lấy ví dụ như, một người có Long Vĩ ở Ma Kết trong nhà 6. Với vị trí này, Forrest (2000) cho rằng có một “duyên nợ u ám với việc kiểm soát người khác thông qua dịch vụ… giữ họ yếu đuối, phụ thuộc thông qua việc biến bản thân trở thành người không thể thiếu với họ” (tr. 192). Hình mẫu này xuất phát từ tiền kiếp, Forrest nói, bởi ý nghĩa căn bản của Long Vĩ chính là nó thể hiện một thói quen thâm căn vào linh hồn và giờ đây được đeo mang vào cả cuộc sống hiện tại.

Để kiểm tra nhận định này thông qua phương pháp thôi miên hồi quy, người nghiên cứu cần hướng khách hàng nhớ về kiếp trước và xem loại thông tin nào sẽ đột ngột trỗi dậy. Tuy nhiên, quy trình này không hứa hẹn sẽ mang lại dữ liệu xác thực. Ngược lại, nó dường như còn mang đến nhiều bằng chứng đối lập với ý nghĩa được định trước của Long Vĩ Ma Kết nhà 6. Dựa theo tài liệu ghi được, nhiều buổi trị liệu với cùng một khách hàng thường tạo ra những câu chuyện biến đổi vô cùng, liên quan đến những tính cách và hoàn cảnh hoàn toàn khác nhau (Woolger, 1987; Weiss, 1992). Bất cứ điều gì có thể đúng với một tính cách của một hiện thân thường mâu thuẫn với tính cách của một hiện thân khác. Roger Woolger, một nhà phân tích tâm lý theo thuyết của Jung và có thể được cho là người có tiếng nói nhất trên thế giới về liệu pháp hồi quy, viết rằng:

Một khi chúng ta bắt đầu khám phá chuỗi kiếp sống đã qua, một điểm nổi bật xuất hiện: luôn có một quá trình đảo ngược thường hằng từ một dạng tính cách tới dạng trái ngược của nó. Quan điểm đạo đức và những chủ đề chính) trong các câu chuyện chúng ta đón nhận cũng đảo ngược. Vậy nên chúng ta gặp phải những chu kỳ đời sống xoay vòng trong tính cách từ những người vợ lẻ đến người sống độc thân, kẻ tiêu hoang đến người khốn khổ, vua chúa đến nô lệ, người thích ở nhà đến kẻ ưu phiêu lưu, vân vân. Chủ đề và khung cảnh cũng trải qua những nghịch đảo trọng yếu, từ một thống đốc La Mã cai quản toàn bộ Tây ban nha đến một nông dân trắng tay ở Hà Lan; từ một nô lệ bị đày ải đến một lãnh chúa Trung Hoa; từ một đứa trẻ bị lạm dụng tình dụng đến một kẻ hiếp dâm và trộm cướp thời loạn chiến. (tr. 218)

Như đã nói đến, Forrest (2000) tuyên bố rằng Long Vĩ chính là kết quả sơ lược của tất cả duyên nghiệp được tích lũy từ nhiều kiếp trước, và nó tượng trưng cho những ký ức xúc cảm của linh hồn (tr. 196). Bởi Long Vĩ Ma Kết nhà 6 trong chiêm tinh có phần nào ý nghĩa liên quan đến hạn chế và tỉ mỉ, nó cho thấy linh hồn ấy trong lịch sử tiến hóa của mình sẽ có những mẫu thức lặp đi lặp lại và có thể nhận thức được, ví dụ như trở thành một người ham công tiếc việc. Tuy nhiên, nếu ta chấp nhận quan điểm của Woolger rằng linh hồn trải qua một quá trình nghịch đảo liên tục trong tính cách, chủ đề, và môi trường, thì việc Long Vĩ phản ánh một tính cách hoặc môi trường cụ thể trong tiền kiếp là điều bất khả. Nghiên cứu về luân hồi cho thấy không có một tính cách hoặc cuộc đời tiêu biểu nào linh hồn; thay vào đó, quỹ đạo tiến hóa của chúng ta trải ra đồng điệu với nguyên tắc của Jung về tiến trình chuyển đổi thái cực – chuyển đổi một tính cách sang tính cách trái ngược với nó, và ngược lại, để sau một chuỗi các kiếp sống và hiện thân khác nhau, chúng ta có thể di chuyển tiến về sự toàn vẹn (Bache; 1994; Cerminera; 1950). Do đó, các liệu pháp quay về tiền kiếp khó có thể dẫn chứng cho việc Long Vĩ đại diện cho một tính cách hay một lối sống cụ thể từ các hóa thân kiếp trước.

Có khả năng là cung và nhà của Long Vĩ tượng trưng cho một điều đặc biệt về kiếp sống trước đó. Đó chính là những gì mà Forrest (2000) ám chỉ khi nói rằng cung của Long Vĩ biểu thị “thái độ và động lực tâm lý trong những hình mẫu duyên nghiệp,” trong khi nhà của Long Vĩ biểu thị “những trạng huống của linh hồn trong kiếp sống đó” (tr. 189). Bởi ông nói “trong kiếp sống đó,” nên rõ ràng rằng khi ấy ông không nói về Long Vĩ như sản phẩm cuối cùng của tất cả các kiếp sống, mà nó chỉ biểu thị nghiệp quả trong một kiếp sống cụ thể, tỉ như ông khẳng định rằng Long Vĩ Ma Kết nhà 6 mang hàm ý trong kiếp sống trước, người đó đã kiểm soát mọi người thông qua cách đối đãi họ (tr. 192).

Ngay cả khi giả định rằng vị trí Long Vĩ ấy tượng trưng cho duyên nghiệp từ kiếp liền trước đó, vẫn có những vấn đề nghiêm trọng về phương pháp luận trong việc tìm kiếm những bằng chứng củng cố cho giả thuyết này. Nhà nghiên cứu tiền kiếp buộc phải (1) tách biệt hiện thân của kiếp sống liền trước với tất cả những hiện thân trước đó, và (2) nhận thức được những bằng chứng chứng minh hay bác bỏ ý nghĩa của Long Vĩ Ma Kết nhà 6. Là một người đã từng trải qua liệu pháp hồi quy và cũng đã từng sử dụng phương pháp này với khách hàng, tôi có thể xác minh rằng việc này cực kì khó khăn bởi những lý do sau đây.

Thứ nhất, khi một người trải qua sự thôi miên, tiền kiếp xuất hiện trước mắt họ một cách nhanh chóng, mơ hồ và chắp vá; điều này không cho phép chúng ta có được sự phân tích minh bạch và sâu sắc về tính cách của người đó trong tiền kiếp. Dữ liệu tiểu sử dạng này thường không xuất hiện một cách tuyến tính, tuần tự mà bị giới hạn trong những sự việc nặng tính quan trọng cảm xúc. Nó giống như là nhìn thấy bản xem trước của bộ phim hơn là bản thân của bộ phim đó. Cũng như bản xem trước bị giới hạn trong những phân cảnh cao trào cảm xúc đan xen lẫn nhau, buổi thôi miên hồi quy cũng sẽ được diễn ra theo cách tương tự.

Bài có thể cùng chủ đề:  Chiêm tinh Cận thị: Lỡ Rừng vì Cây

Thứ hai, Long Vĩ chỉ tượng trưng cho một khía cạnh của cuộc sống hiện tại và được bao hàm trong tổng thể bản đồ sao, tức vô vàn vị trí cung, nhà, góc hợp, những mẫu hình chính, chủ tinh, và những thứ tương tự. Bởi vì kiếp này diễn ra theo cách như thế, nên bất kì kiếp trước nào cũng sẽ diễn ra theo cách tương đồng. Với sự phức tạp vô cùng của bản đồ sao hoạt động trên nguyên tắc đồng vận của một thứ lớn hơn tổng thể các thành phần, tôi không nghĩ rằng  hành vi  gắn liền với một tổ hợp đơn lẻ như Long Vĩ sẽ bất chợt xuất hiện với nhà nghiên cứu trong cái cách thức diễn ra mơ hồ của biểu trị liệu hồi quy.

Thứ ba, để được xem xét một cách nghiêm túc, trị liệu hồi quy không thể dính líu đến loại câu hỏi cần thiết để tìm ra thông ra thích hợp cho một giả thuyết nghiên cứu. Nhà trị liệu thôi miên cần phải cho phép những chất liệu vô thức hiển lộ một cách tự nhiên, không được lèo lái, gợi ý, hoặc dẫn dắt bằng câu hỏi, những vấn đề cá nhân với khách hàng cũng phải nhất quán với điều này. Nhà nghiên cứu có thể có thể đặt những câu hỏi liên quan đến những gì xuất hiện một cách tự nhiên, nhưng dẫn dắt chủ thể vào phạm vi tương thích với giả thuyết nghiên cứu sẽ làm vấy bẩn buổi trị liệu, mỗi thông tin thu được sẽ ngay lập tức đáng nghi ngờ. Phản ứng với những câu hỏi như vậy, vô thức sẽ không tránh khỏi việc bị ảnh hưởng và tạo ra những thông tin có vẻ phù hợp với giả thuyết nghiên cứu.

Những dữ liệu trên sẽ còn đáng ngờ hơn nếu ngay từ đầu ta đã phân tích ý nghĩa của Long Vĩ và rồi chủ thể được hỏi về tiền kiếp để xác nhận hoặc không xác nhận diễn giải đó. Hãy tưởng tượng một chiêm tinh gia nói rằng:

Vị trí Long Vĩ của anh ở đây nghĩa là anh có thể đã từng kiểm soát mọi người thông qua sự đối đãi anh dành cho họ ở kiếp trước. Bây giờ, tôi muốn anh nhớ lại kiếp trước. Sao rồi?

Với những trường hợp như thế này, không thể loại trừ khả năng rằng chủ thể sẽ chỉ tự dệt ra những thông tin tương ứng với những gì họ được gợi ý.

Cuối cùng chính là vấn đề đã được đề cập trước đó, rằng tính xác thực của dữ liệu về tiền kiếp tự thân nó rất khó để xác nhận. Trong một vài trường hợp, dường như những buổi trị liệu hồi quy đã tiết lộ thông tin liên quan đến một kiếp trước xác thực; tuy nhiên, trong nhiều buổi trị liệu khác, có vẻ như phần vô thức của chủ thể đã tự dệt ra một sự mơ màng mô phỏng lại những vấn đề, mâu thuẫn cụ thể, hay mối bận tâm đến cuộc sống hiện tại, giống như những giấc mơ vậy. Chính hành động tạo tác của khách hàng để nhớ lại một tiền kiếp, thêm với chủ tâm hồi tưởng của họ, tạo ra một sự thông đồng giữa nhà trị liệu và khách hàng khiến kết quả của những “ký ức” có tính đáng ngờ. Thay vì thực sự nhớ lại một kiếp trước, chủ thể có thể chỉ đơn thuần bị thôi miên vào cái cảm thức rằng họ đang nhớ lại một kiếp trước.

Tóm lại, cho đến khi còn liên quan đến thôi miên hồi quy, có ít nhất năm vấn đề mà phương pháp này mở ra cho một nhà nghiên cứu đang kiểm tra giả thuyết rằng một phần của bản đồ sao phản ánh lại mẫu hình nghiệp quả từ kiếp trước đó:

1. Thông tin được trình bày theo một cách hỗn loạn, khó nắm bắt, và rời rạc, không cho phép ta có được một phân tích rõ ràng, sâu sắc về một loại tính cách.
2. Vì Long Vĩ chỉ là một trong những khía cạnh của bức tranh đa chiều, phức tạp (tức tổng thể bản đồ sao), nó sẽ không tự động thể hiện bản thân một cách chính chính xác, rõ ràng.
3. Trị liệu thôi miên hồi quy không thể bao hàm cả những câu hỏi dẫn dắt được thiết kế để khai thác thông tin liên quan đến giả thuyết nghiên cứu.
4. Diễn giải về Long Vĩ không thể xuất hiện trước buổi thôi miên hồi quy thực tế mà không gây ảnh hưởng xấu đến dữ liệu kết quả.
5. Khi nói rằng một người đang nhớ lại kiếp trước của họ, khó để mà phân biệt những dữ liệu tiền kiếp thực tế với sự thêu dệt.

Tất cả những điều này khiến phần lớn thông tin rút ra được từ buổi thôi miên hồi quy sản sinh ra những dữ liệu không xác tín cho một giả thuyết chiêm tinh tiền kiếp. Dĩ nhiên, điều này không có nghĩa là ta không nên thử áp dụng chúng, nhưng bất cứ kết luận nào có thể được rút ra từ những nghiên cứu như thế này cần phải được nhận thức đầy đủ về tính xác thực ước đoán, khả nghi của dữ liệu. Trên thực tế, nhiều chiêm tinh gia đã viết về trải nghiệm của họ trong việc sử dụng liệu pháp hồi quy như một công cụ hỗ trợ cho phương pháp luận với một sự canh cánh trong đầu. Nancy Kahn phát biểu rằng bà đã là một chiêm tinh gia và nhà thôi miên hồi quy trong 25 năm.

Tôi luôn lập bản đồ sao cho mỗi khách hàng tôi thôi miên. Tôi có thể nói một cách chắc chắn rằng bạn không thể biết về quá khứ tiền kiếp của một người bằng cách nhìn vào bản đồ sao… Tôi tin rằng đã đến lúc nên chấm dứt việc ước đoán về tiền kiếp bằng cách nhìn vào bản đồ sao!

Một chiêm tinh gia và đồng thời cũng là nhà thôi miên hồi quy khác, Barbara May, viết rằng:

Mọi thứ dính dáng đến tiền kiếp, chẳng hạn như bản đồ sao mà chúng ta đang nói đến đây, chắn chắn PHẢI mang tính suy đoán. Tôi xin cam đoan như vậy, bởi tôi không chắc có người nào có được cơ sở dữ liệu mà tôi đã bắt đầu thu thập để làm việc cùng với Richard Stuphen vào tháng 7 1976. Ta vẫn phải giữ thái độ hoài nghi khi làm việc với dạng thông tin như vậy. Tôi cũng đã làm rõ rằng mọi thứ mình nói về tiền kiếp dựa vào bản đồ sao gốc là những phát biểu mang tính suy đoán và đừng suy diễn xa hơn với nó. Mọi người không nhận ra được rằng thông tin đến từ một trạng thái ý thức đã được tác động thật sự có thể mỏng manh đến mức nào.

Một phương pháp thứ hai có thể dùng để thu thập bằng chứng củng cố cho giả thuyết chiêm tinh tiền kiếp chính là dùng đến những nhà ngoại cảm lành nghề cộng tác cùng với chiêm tinh gia và nhà nghiên cứu. Những bằng chứng thu được từ cách này có thể xác nhận cho một giả thuyết cụ thể, chẳng hạn như Long Vĩ Ma Kết nhà 6. Để chứng minh cho diễn giải của Forrest (2000) về vị trí này, nhà ngoại cảm sẽ phải thấu triệt xem liệu một cá nhân trong tiền kiếp có thực sự kiểm soát người khác thông qua việc đối đãi họ. Tuy nhiên, để loại bằng chứng này được công nhận, nhà ngoại cảm không được biết trước bản chất của giả thuyết đang chứng minh, bởi sự biết trước cũng sẽ ảnh hưởng đến kết quả.

Phần cuối

__

Glenn Perry là chiêm tinh gia chuyên nghiệp từ năm 1975 và là nhà tâm thần học đủ tiêu chuẩn hành nghề từ năm 1979. Bổ trợ công việc của ông là bằng Tiến sĩ về nghiên cứu nhận thức và bằng Thạc sĩ về Trị liệu Hôn nhân & Gia đình. Ông là thành viên giữ vai trò quan trọng trong nhiều Hiệp hội Chiêm tinh và Tâm lý. Năm 2012 ông sáng lập Học viên Chiêm tinh-Tâm lý và tiếp tục điều hành Học viện cho đến nay. Hiện tại (2017), ông đã xuất bản được 8 đầu sách về chiêm tinh: An Introduction to AstroPsychology, Mapping the Landscape of the Soul, Stealing Fire from the Gods, From Royalty to Revolution, The Shadow in the Horoscope, Issues & Ethics in the Profession of Astrology, Depth Analysis of the Natal Chart, From Ancient to Postmodern Astrology.

Bạn đọc có thể tìm hiểu nhiều hơn trên website của ông: aaperry.com

__

Dịch từ “Silent Night: The Ethics of Reincarnational Astrology”, Issues and Ethics In the Profession of Astrology với sự cho phép của tác giả Glenn Perry.

Copyright © by Glenn Perry | Bản dịch © Saturn Cafe

Ảnh: Helena Almeida, Inhabited Painting, 1975.

 

Write a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *