Chiêm tinh học về Trầm cảm (2/2)

Chiêm tinh học về Trầm cảm | The Astrology of Depression - Judith Hill

MƯỜI LĂM DẤU HIỆU CHIÊM TINH CỦA TRẦM CẢM MÃN TÍNH

1) Mặt trời, Mặt trăng, cung Mọc hoặc sao Thủy ở cung nước, đặc biệt là Song Ngư và Cự Giải (hai hoặc nhiều vị trí).
Thiên Yết thể hiện những dấu hiệu thiên về Trầm cảm Trọng chính, dạng cực đoan hơn của bệnh trầm cảm.
Lưu ý: Nước là nguyên tố dễ bị ảnh hưởng và dễ bị in dấu nhất trong bốn nguyên tố11. Tôi quan sát được rằng những người trội nước thường lưu giữ các kỉ niệm ấu thơ, kí ức truyền từ tổ tiên hoặc từ tiền kiếp dai dẳng hơn hơn những cung khác. Thêm vào đó, những cung này cũng nổi tiếng vì khả năng ngoại cảm và độ nhạy trong cảm xúc của mình, cũng như ngưỡng tối thiểu khá kém của họ trong việc va chạm tâm linh. Mặc dù không được công nhận bởi tâm thần học lâm sàng, sự nhạy cảm tâm linh có thể củng cố đáng kể cho Trầm cảm Mãn tính ở những người bệnh có bản đồ sao trội nước và có vấn đề với nó.

2) Mặt trời, Mặt trăng, cung Mọc, sao Kim, sao Thủy hoặc sao Mộc ở cung của sao Thổ (tức Ma Kết hoặc Bảo Bình, đặc biệt nhất là Bảo Bình).
Lưu ý: Điều này đặc biệt quan trọng khi hành tinh có góc hợp căng thẳng với sao Thổ, hoặc từ hai hành tinh trở lên trong Ma Kết hoặc Bảo Bình. Ví dụ như Mặt trăng Bảo Bình trùng với sao Thổ.

3) Bản đồ sao Thiếu Nguồn sáng và Trầm cảm: Một Phát hiện Mới.
Sinh gần lúc không nhìn thấy vùng sáng của Mặt trăng, (như trăng bán nguyệt trước lúc không trăng, sau lúc trăng tròn; trăng tàn; hoặc trăng non), đặc biệt khi sinh vào buổi tối, và vào mùa Đông (Ma Kết, Bảo Bình, Song Ngư). Sinh vào lúc nửa đêm của một đêm trăng non vào mùa đông sẽ là một ca có khả năng cao nhất! Trăng bán nguyệt là thời điểm ít ảnh hưởng nhất.
Lưu ý: Tình trạng này cho thấy sự sụt giảm của nguồn sáng vũ trụ, và đòi hỏi nhiều ánh sáng Mặt trời. Không bất ngờ gì, sự sụt giảm ánh sáng hiện nay được liên hệ đến trầm cảm ở một số cá nhân, và được gọi là ‘Rối loạn cảm xúc theo mùa.’ Mức độ serotonin giảm sút trong ánh sáng yếu của mùa đông. Serotonin giúp sản xuất dopamine. Thiếu dopamin khiến chúng ta khó cảm nhận niềm vui. Phải chăng những người sinh ra vào các cung mùa đông Ma Kết, Bảo Bình và Song ngư; và/hoặc vào lúc ít thấy được ánh sáng từ Mặt trăng, hay buổi đêm, có xu hướng sụt giảm mức serotonin?

4) Sao Thổ trội ở bất kì cung nào hoặc góc nào, hoặc có góc hợp căng thẳng hay góc 150 tới Mặt trời, Mặt trăng, sao Thủy, sao Kim hoặc Hải Vương (đặc biệt là Mặt trăng) cũng góp phần tạo nên trầm cảm.
Dấu hiệu này sẽ càng kiên cố hơn khi xuất hiện đồng thời với dấu hiệu #1 hoặc #2. Những ảnh hưởng lạnh, đè nén của sao Thổ được xem là nguyên nhân nổi trội của trầm cảm trong truyền thống, bởi sầu muộn từng được cho là mang tính “lạnh”.

5) Mặt trời, Mặt trăng, sao Thủy, sao Kim, sao Mộc hoặc Hải Vương trùng tụ ít sai số với Long Vĩ trong bản đồ sao gốc.

6) Nhiều hành tinh chiếm đóng ở các nhà nước (nhà 4, nhà 8 và nhà 12 theo hệ nhà trọn cung)
Lưu ý: Nhà 12 được xem là ‘nhà của ưu sầu’ theo truyền thống. Nếu như có một nhà chủ chốt cho trầm cảm, thì chính là nó! Sao Thổ, Mặt trăng, sao Thủy hoặc Long Vĩ tại đây chỉ ra những dấu hiệu khả thi cho trầm cảm. (Xem thêm dấu hiệu #15). Chú ý: Các chiêm tinh gia sớm đã mập mờ nhận ra sự liên quan đến sức khỏe tâm thần của nhà này (đối diện nhà 6 của sức khỏe thể chất). Các tác giả đã phân những cụm từ u sầu vào đây như: “nỗi sợ”; “kẻ thù bí mật”; sự giam tù”; “than vãn”; “cô độc”; “nô lệ”; “hành vi tự hủy”; “ác mộng”; “tiếc nuối”; “việc chưa hoàn tất”; “nghiệp” vân vân. Chúng ta phải nhớ rằng nhà 12 cũng có những khía cạnh tích cực như: “lòng khoan dung”; “tình yêu nhân loại”; “hoạt động tâm linh; vân vân.

7) Căng thẳng trên trục nhà 3-nhà 9 (hệ nhà trọn cung).
Sao thổ hoặc Giao điểm của Mặt trăng ở nhà 3, nhà 9 là điển hình, hoặc những hành tinh khó khăn ở vị trí của trục này.

8) Sao Thủy hoặc Mặt trăng ở độ từ 27 đến 29 của cung nước hoặc cung đất hoặc cung của sao Thổ (Ma Kết hoặc Bảo Bình).
Những độ này được xác thực trong việc gây nên trầm cảm.

9) Sao Hải Vương trùng hoặc tạo góc hợp căng thẳng với Mặt trời, Mặt trăng, cung Mọc, sao Thủy, sao Thổ. Cụ thể, Mặt trời trùng với Hải Vương trong sai số một độ tạo ra những khát khao không tưởng mạnh mẽ trong việc thoát khỏi thế giới này.
Lưu ý: Mặc dù các triệu chứng có thể giống nhau, nhưng trầm cảm kiểu “Hải Vương” có căn nguyên tâm lý và năng lượng khác biệt so với trầm cảm của sao Thổ.

10) Mặt trăng ‘bị ảnh hưởng’:
Là thiên thể nhạy cảm về cảm xúc nhất của chúng ta, Mặt trăng được xem là tác động chủ chốt trong tất cả bệnh tâm thần, có khi được gọi là “lunacy” (lunacy mang nghĩa mất trí với luna có nghĩa là mặt trăng)! Có rất nhiều cách khác nhau để xét rằng một Mặt trăng đang trong tình trạng căng thẳng. Những phiền muộn tột cùng và phức tạp có thể phản ánh trong những giai đoạn tinh thần kì quặc hoặc bị xáo trộn bởi nhiều trạng thái tinh thần khác nhau. Tuy nhiên, Trầm cảm Mãn tính cần đến những năng lượng tính lạnh, u tối, và những cảm xúc là hệ quả tất nhiên của sự sợ hãi, đau buồn, vô vọng và cô đơn. Chúng ta sẽ tìm kiếm những muộn phiền được gợi lên bởi những cảm giác này. Dĩ nhiên, sẽ có vài cung Mặt trăng có thiên hướng này hơn những cung khác.
Liệt kê vắn tắt: Mặt trăng ‘bị bao vây’ giữa sao Thổ, sao Hỏa; tạo góc hợp căng thẳng với sao Thổ hoặc Hải Vương (#4, 9); trùng với Long Thủ/Long Vĩ (đặc biệt là Long Vĩ); nằm ở “khúc ngoặt”, tức vuông góc với hai giao điểm của mình trong sai số nhỏ; ở nhà 8 hoặc 12; ở thế không tốt (Ma Kết hoặc Thiên Yết); bị cô lập bằng việc nằm riêng lẻ ở một bán cầu hay phần tư, rơi vào thế nhật thực, là tâm điểm của T-square hoặc Yod; tạo góc 150 với sao Thổ, Hỏa, Thiên Vương hoặc Diêm Vương; trùng hành tinh vòng ngoài như Thiên Vương, Hải Vương và Diêm Vương với sai số nhỏ.

11) Thiếu hành tinh ở cung lửa (Bạch Dương, Sư Tử, Nhân Mã) cùng với sự xuất hiện của bất kì dấu hiệu nào được liệt kê ở trên.
Lưu ý: Lửa mang tính khô/nóng và giải trừ năng lượng ẩm/lạnh của năng lượng gây trầm cảm. Cung lửa đem lại sự ấm áp, mục tiêu, vui vẻ, khích lệ, hoạt động thể chất lạc quan và kích thích. (Sao Thổ ở cung lửa không nhất thiết là dấu hiệu có lợi, bởi tính lạnh của nó đè nén lửa.)

12) Mặt trời và sao Hỏa ở thế yếu tại cung và vị trí của nó trong bản đồ sao (xảy ra đồng thời với bất kì dấu hiệu nào được liệt kê ở trên.)
Mặt trời không chỉ là nguồn sáng, mà còn đối đỉnh sao Thổ bởi những gì nó cai quản.
Sao Hỏa cung cấp năng lượng và sự can đảm. Những ai có năng lượng sao Hỏa hiếm khi nào rơi vào trầm cảm, (họ có những vấn đề khác.) Cần có kĩ năng và kinh nghiệm để cân nhắc độ mạnh yếu của hành tinh và có nhiều cách khiến nó rơi vào thế yếu.
Ví dụ vắn tắt cho Mặt trời: nằm ở nhà chuyển tiếp (3, 6, 9, 12), trùng với Long Vĩ, tạo góc hợp căng thẳng với sao Thổ hoặc Hải Vương, ở Bảo Bình, Thiên Bình, Cự Giải hoặc Song Ngư, ở nhà 6, 7, 12 theo hệ thống nhà trọn cung.
Ví dụ vắn tắt cho sao Hỏa: Ở Cự Giải, Thiên Bình, tạo góc hợp căng thẳng với Hải Vương, ở nhà 4 hoặc nhà 7, trung tâm của mẫu hình Yod.

13) Sao Kim ở thế yếu và bị ảnh hưởng: Thiếu vắng hoặc mất đi tình cảm và niềm vui góp phần gây nên trầm cảm.
Cần kĩ năng để phán đoán thế yếu của sao Kim.
Ví dụ vắn tắt: Ở thế không tốt (Xử Nữ, Bạch Dương và Thiên Yết), trùng với Long Vĩ, tạo góc hợp căng thẳng với sao Thổ, ở nhà 6 hoặc 8. (Xem thêm #2)

14) Sao Mộc bị ảnh hưởng (khó khăn), đặc biệt ở cung đất hoặc nước: Thiếu vắng niềm vui và hy vọng.
Lưu ý: Sao Mộc trội không có nghĩa là trầm cảm được kiểm soát. Một sao Mộc trội đặt cạnh một dấu hiệu trầm cảm hoặc một sao Thổ trội tương đương tạo nên sự cực đoan trong cảm xúc, rất điển hình trong dấu hiệu lưỡng cực! Nếu những dấu hiệu khác cũng cho thấy điều tương tự, sao Mộc trong cung nó cai quản, Song Ngư, có thể làm trầm trọng thêm căn bệnh trầm cảm (lũ lụt nước mắt được tạo ra ở đây). (Xem thêm #2)

15) Những hành tinh khó khăn ở nhà 12 theo hệ nhà trọn cung của Mặt trăng trong bản đồ sao gốc.
Sao Thổ, Long Vĩ hoặc những sự kết hợp đáng e ngại khác đôi khi biểu thị trầm cảm nếu được tìm thấy ở cung liền trước cung của Mặt trăng trong bản đồ sao gốc. (Xem #6)

NGHIÊN CỨU VÍ DỤ THỰC TẾ

Hãy quan sát và so sánh các mẫu nguyên tố, hành tinh và cung trong bản đồ sao của ba người mắc phải Trầm cảm Mãn tính: “Morris”, “Jennie” và người ưu sầu nổi danh Abraham Lincoln. Liệu bản đồ sao gốc của họ có cho thấy sự vượt trội của năng lượng lạnh, ẩm, khô hay năng lượng u tối và trì hoãn? Liệu sao Thổ có ngụ ở vị trí nó cai quản? Liệu có sự vượt trội của cung nước hay đất mà không có sự cân bằng nào từ cung lửa ấm áp, vui tươi? Bản đồ sao của họ có “thiếu hụt nguồn sáng” không?

Mức độ trầm trọng và thời gian kéo dài của trầm cảm mãn tính là chủ đề lý tưởng cho nghiên cứu chiêm tinh về năng lượng của bản đồ sao gốc. Mười lăm dấu hiệu kể trên cho thấy trầm cảm mãn tính (dysthymia) cần đến nhiều biểu hiện, tất cả được thể hiện một cách tài tình bởi bản đồ sao gốc của cả ba đối tượng.

Vì không gian hạn chế, một cuộc bàn luận về quá cảnh (transit) và tiến trình (progression) quanh sự bắt đầu của trầm cảm thuộc sẽ thuộc phạm vi một buổi nói chuyện khác.

Về bản đồ sao (1, 2, 3)

Phía hoài nghi có thể cho rằng ba bản đồ sao được chọn ra để phù hợp với mười lăm dấu hiệu Trầm cảm Mãn tính của tôi. Tuyệt đối không phải thế. Hai trường hợp đầu tiên của chúng ta (Morris và Jennie), là những lưu trữ cá nhân của tôi về người mắc phải trầm cảm đến từ những người mà tôi có được sự cho phép của họ. Abraham Lincoln được liệt kê ở đây vì ông ta có lẽ là người mắc phải trầm cảm được chú ý nhất trong lịch sử Mỹ.

Những dấu hiệu trầm cảm mãn tính được quan sát trong những trường hợp sau là những dấu hiệu điển hình trong hầu hết các hồ sơ của tôi. Tuy nhiên, nó vẫn không làm nên một nghiên cứu theo chuẩn khoa học bởi chúng ta cần ít nhất một trăm bản đồ sao cùng các nghiên cứu mở rộng để tạo nên một “mẫu ví dụ”. Những gì chúng ta có ở đây là một hướng dẫn hữu ích được suy ra từ nhiều năm quan sát của nhà nghiên cứu. Những ai có hứng thú với nghiên cứu này nên chắc chắn rằng họ đã phân chia những ví dụ của mình theo các dạng trầm cảm đã định.

BẢN ĐỒ SAO 1: MORRIS

Là cháu trai của một người sống sót từ cuộc thảm sát Holocaust, Morris bẩm sinh đã trầm cảm, tuy đã chữa trị nhiều năm nhưng mọi cố gắng đều vô ích. Anh nhận thấy mọi thuyên giảm đều không ích lợi gì, luôn cảm thấy niềm vui bị lấy mất. Mặc dù có những thành tựu đáng kể, anh vẫn không thấy đời mình có ý nghĩa. Thân thiện, ân cần, hào phóng, quan tâm đến bạn bè, cùng lúc đó chịu đựng nỗi đau đớn cảm xúc tột cùng không dứt và nỗi chán ghét bản thân không thể chịu đựng. Kỉ niệm quá khứ tra tấn anh (các cung nước cai quản kí ức, đặc biệt là Cự Giải). Vẻ ngoài cực điển trai, Morris hiếm khi bận tâm đến việc chải chuốt bản thân hoặc những thói thường cơ bản. Anh không tập thể dục, luôn mặc quần áo tối màu và giữ một dáng vẻ buồn rầu, tẻ nhạt, nhấn mạnh thêm bởi những biểu cảm khuôn mặt khó hiểu. Morris hiện thân cho tuýp Song Ngư kinh điển của trầm cảm mãn tính, thường được thấy nhất¹².

BẢN ĐỒ SAO
Vui lòng xem từ Danh sách các Dấu hiệu theo các chữ số bên dưới

Bản đồ sao của Morris cho thấy những dấu hiệu không thể chối cãi của trầm cảm. Thiếu hụt Nguồn sáng: Morris sinh ra vào lúc không nhìn thấy nhiều vùng sáng của Mặt trăng, trong cuối mùa Đông (dấu hiệu #3). Mặt trời và Mặt trăng của anh ở Song Ngư, cùng cung mọc Cự Giải, khiến anh hội tụ đủ bộ ba cung nước, hay còn gọi là năng lượng lạnh và ướt (#3). Sao Thủy cũng đồng thời thuộc Song Ngư (#3). Thứ duy nhất ở cung lửa là Long Thủ Bạch Dương, càng cho thấy việc chữa trị ở đây. Nguyên tố lửa bị thiếu hụt (#11). Hai nguồn sáng cùng ở nhà 9, và cung linh hoạt Bạch Dương, phân tán động lực sống, mục tiêu và ý chí của anh (#12). Thêm vào đó, sao Thổ ở Xử Nữ ảnh hưởng đến cả hai nguốn sáng, Mặt trăng và Mặt trời, cùng sao Thủy thông qua góc đối đỉnh, tại trục tâm trí nhà 3 và nhà 9. Điều này cho thấy một tâm trí gieo neo vô cùng. Ba hành tinh trú tại cung của sao Thổ: sao Hỏa và sao Kim ở Bảo Bình, và trong đó hai hành tinh “may mắn” sao Kim và sao Mộc cũng nằm trong cung sao Thổ (#15). Khả năng tự nhiên của chúng trong việc giải trừ sao Thổ do đó bị triệt tiêu bởi vì chúng đang nằm ở cung do sao Thổ cai quản. Hải Vương cũng nằm gần Long Vĩ, làm tăng thêm sự nhạy cảm tâm thần và tính lãnh đạm, (#5).

Bài có thể cùng chủ đề:  một tính cách có thật

Mặt trăng phần nào đó chỉ ra mức độ thoải mái trong cảm xúc của chúng ta và đóng vai trò quan trọng trong tất cả trạng thái tinh thần. Mặt trăng của Morris bị ảnh hưởng căng thẳng vô cùng. Hãy chú ý đến sự trói buộc khắt khe của Mặt trăng khi nằm trong vùng thiêu cháy của mặt trời (combustion), cùng góc đối với sao Thổ cộng thêm góc trùng với sao Hỏa. Thêm vào đó, một mẫu Yod yếu (hai góc 150°) từ Diêm Vương và Hải Vương hướng đến Mặt trăng, đây chính là trái cherry của ổ bánh trầm cảm. Không có góc 120º hoặc 90º để giải tỏa cho Mặt trăng (đồng thời cũng là hành tinh cai quản bản đồ sao và chỉ thị cảm xúc).

Nhận xét: Bản đồ sao này là ví dụ khuôn mẫu cho dạng trầm cảm thừa nước/thiếu lửa kết hợp với một sao Thổ nặng nề áp bức. Bản đồ sao cho thấy sự thiếu hụt nguồn sáng, không khí và sự vận động thể chất! Các hành tinh nâng đỡ như sao Mộc và sao Kim lại quá yếu để có thể tạo ra niềm vui (#13-15). Hơn thế, không có góc vuông mạnh nào trong bản đồ sao để giúp đỡ. Các góc vuông, nếu được kích hoạt, không phải lúc nào cũng “xấu”. Bản đồ sao này cần chúng! Năng lượng bị trì trệ. Tính Song Ngư–Cự Giải trội trong bản đồ sao của Morris cho thấy chứng rối loạn căng thẳng hậu chấn thương tâm lý (PTSD) trong gia đình, gánh nặng trong kí ức tiền kiếp hoặc sự nhiễu loạn khả năng ngoại cảm. Trầm cảm bẩm sinh, cũng có thể là khả năng cho kí ức tiền kiếp tồn đọng lại.

BẢN ĐỒ SAO 2: JENNIE

Sinh ra trong sự bần cùng của dân nhập cư Do Thái ở Brownsville, New York. Jennie lớn lên nhờ cá trích và khoai tây muối mặn trong một khu tập thể đông đúc với những người sống sót từ cuộc tàn sát. Cô đã chạy trốn khỏi người mẹ nhẫn tâm của mình vào tuổi 16, mở đầu cho chuỗi thời gian đốt năm gói thuốc một ngày của mình. Tốt bụng, thông minh, cách biệt nhưng thân thiện, cô trôi dạt theo cuộc đời, bị nhấn chìm bởi nỗi đau, tin rằng mình sẽ chết trước tuổi 21. Cô lạc lối trong ảo tưởng, đắm mình trong sách vở, nghệ thuật, viết lách và làm việc. Nỗi buồn sâu thẳm của cô càng được khoét sâu khi một người bạn của cô tự tử sau khi nhận được những sự chú ý đầu tiên từ bản thảo của mình. Cô mắc phải một chứng bệnh thị giác khiến tầm nhìn của mình bị thu hẹp (tunnel vision) và chứng ngưng thở lúc ngủ.

Chúng ta có cơ sở nghi ngờ nguyên nhân là do bản đồ sao quá thừa nước, (đặc biệt là Cự Giải cho chứng rối loạn căng thẳng hậu chấn thương tâm lý gia đình), Hải Vương (nhạy cảm và bất mãn với thế giới này), sao Thổ (cảm xúc u ám, lạnh lẽo); và có lẽ là một Mặt trăng mạnh mẽ (dịu dàng, trí nhớ tốt).

BẢN ĐỒ SAO
Vui lòng xem từ Danh sách các Dấu hiệu theo các chữ số bên dưới

Mặt trời, Mặt trăng và sao Thủy của Jennie đều nằm trong Cự Giải (dấu hiệu #1). Sự thiếu hụt nguồn sáng một lần nữa được thấy rõ: Cô ấy sinh vào một đêm trăng khuất sáng tại cung nước, minh chứng cho một sự thiếu sáng vô cùng (#3). Góc trùng tụ giữa Mặt trời–Hải Vương ở nhà linh hoạt giải thích cho xu hướng rơi vào trạng thái hôn mê một cách vô thức của cô. Tôi hiếm khi gặp ai đó có góc trùng chính xác giữa Mặt trời và Hải Vương mà không bị trầm uất, (#9).

Sao Thổ rơi vào nhà thứ 12 tính từ Mặt trăng, (hay còn gọi là rơi vào cung liền trước Mặt trăng và sao Thủy), (#15), và trùng với Mặt trăng từ cung Song Tử. Mặt trăng của cô khá là căng thẳng giữa góc trùng tụ khác cung với sao Thổ và trùng tụ cùng cung với sao Diêm Vương trong cung cai quản kí ức gia đình: Cự Giải, (#10).

Mặt trăng của Jennie phản ánh sự dư thừa của năng lượng lạnh, ướt, trì trệ và u tối, giải thích tình trạng cảm xúc bị tước đoạt của cô (#10). Hoàn tất danh sách những cung có thiên hướng trầm cảm là cung mọc Bảo Bình, cai quản bởi sao Thổ (#2). Sao Mộc cũng nằm trong cung được cai quản bởi sao Thổ (#15). Sao Kim, hành tinh của hạnh phúc tình yêu bị ảnh hưởng ba lần bởi thế suy ở Xử Nữ, trùng với Long Vĩ và sao Hỏa, và nằm ở cung vuông góc với sao Thổ (#13).

Hãy chú ý sự vắng mặt đầy nghi ngờ của những góc hợp chính, điều này cho thấy sự mất kết ở bên trong nột tại. Jennie hứng chịu sự rời rạc của tâm trí, đôi khi không ý thức được môi trường xung quanh mình.

Sự hiện diện đầy hứng khởi của sao Mộc nhà 1 không làm giảm bớt nỗi buồn của cô bởi nó ngụ ở cung do sao Thổ cai quản, Bảo Bình (#4), và cũng không tạo góc hợp giúp ích nào với Mặt trăng hoặc Mặt trời. Thay vào đó, chính cuộc sống của cô đã nâng đỡ cho cuộc sống của người khác! Jennie là một người chủ trương mạnh mẽ quyền công dân, xóa bỏ nạn phân biệt chủng tộc và hướng đến hòa bình. Tiếc thay, căn bệnh trầm cảm nặng đã một phần gây nên cái chết bất ngờ của cô ở tuổi 55.

Sự mất cân bằng tổng thể: Thừa Nước/Thiếu Lửa

Hãy chú ý đến sự vắng bóng hoàn toàn của những cung lửa ấm nóng có khả năng trung hòa nguyên tố nước lạnh, ẩm của cô! (#11). Điều này rõ là tương tự như trường hợp của Morris. Cả hai ví dụ đều có tính lạnh/ẩm và thiếu năng lượng nóng/khô để trung hòa. Nhắc lại rằng: Trầm cảm, cũng như hầu hết các rối loạn tâm thần và cảm xúc khác, được tạo ra hoặc thể hiện trong bản đồ sao bởi sự kết hợp của những gì nằm ở đầu thái cực: một năng lượng thì dư thừa trong khi đó, năng lượng dùng để cân bằng nó bị thiếu hụt.

Một xác nhận khác chính là góc trùng giữa sao Kim (tình yêu và hạnh phúc) tới Long Vĩ (mất mát), (#5). Cái chết do tự tử của người tình đầu đã chôn vùi trái tim cô trong nỗi đau. Sao Hỏa, hành tinh “sức sống” cũng đang bị xáo trộn bởi góc trùng với Long Vĩ. Góc trùng giữa Mặt trời và Hải Vương của cô ở nhà linh hoạt là minh chứng cho nguồn năng lượng bị khuếch tán (#12), và cho thấy sự chán ghét của cô với những gì thuộc trần thế. Jennie đôi khi bị rơi vào trạng thái hôn mê vô ý thức, và cô nàng yêu thơ. Quả thật là Hải Vương làm sao!

Nhận xét: Bản đồ sao của Jennie là một ‘ví dụ điển hình’ khác của sự thiếu hụt nguồn sáng và không khí, tiềm tàng một gia đình u uất hoặc sự xoắn theo của kí ức một dân tộc (Cự Giải trội và sao Kim trùng với Long Vĩ), cộng thêm lòng khao khát cho ngôi nhà tinh thần đích thực (Mặt trời trùng Hải Vương). Thế giới là thực tế khắc nghiệt cho những người Hải Vương trội! Có thể cô ấy đã phải chịu đựng Trầm cảm Di truyền? Cung nước có thể ám chỉ “rối loạn căng thẳng hậu chấn thương tâm lý gia đình”. Cả hai ví dụ trên của chúng ta đến trực tiếp từ các gia đình Do Thái, nếu hiện nay không bị tàn phá bởi nạn diệt chủng. Liệu căn bệnh trầm cảm sử thi của Vua Saul trong Kinh Thánh là linh cảm cho việc bệnh trầm cảm thật sự xảy ra nhiều hơn ở người dân Do Thái? (#10,11). Chúng tôi đoán rằng các nỗi buồn được di truyền theo thế hệ bằng cách nào đó đã in sâu vào DNA của chúng ta và đồng thời phản ánh thành “dấu ấn của nỗi buồn” trong các bản đồ sao của người thừa hưởng.¹²-¹³

BẢN ĐỒ SAO 3: ABRAHAM LINCOLN

Tổng thống Mỹ Abraham Lincoln được biết đến với chứng trầm cảm giày vò trong suốt cuộc đời trưởng thành của ông. Cái chết năm 1835 của tình đầu Ann Rutledge nhấn ông chìm sâu vào chứng trầm cảm mà tới nay chúng ta vẫn được nghe đến nó.

Người viết tiểu sử của Lincoln, Joshua Wolf Shenk trình bày các sự kiện của ông trong quyển sách năm 2005: Nỗi U Uất Của Lincoln: Trầm Cảm Đã Thử Thách Và Khơi Nguồn Cho Sự Vĩ Đại Của Ông Như Thế Nào. Một trích đoạn:

Dù vì lý do gì, hoặc vì sự kết hợp của những lý do gì, vào cuối mùa hè năm 1835 nỗi trầm cảm của Lincoln đã được đẩy ra ngoài ánh sáng. Sau nhiều tuần có những hành vi đáng lo ngại, những cuộc nói chuyện về tự tử, lang thang một mình trong rừng cùng khẩu súng của mình, một cặp vợ chồng lớn tuổi trong khu vực đã mời ông vào nhà của họ… Khi ông đã cải thiện phần nào, họ để ông đi, nhưng bà Green nói, ông ấy “khá là buồn bã trong nhiều tháng ròng.”

Giai đoạn trầm cảm tái phát, dài và mãnh liệt. Rõ là ông đã chịu đựng “trầm cảm kép” với những giai đoạn của Trầm cảm Trọng chính trầm trọng hơn. Lincoln đồng thời cũng là một hình mẫu ví dụ cho mẫu người cao gầy, bí ẩn, nhân đức và có tính cách riêng của “Bảo Bình-Ma Kết”, thi thoảng được thấy ở những Bảo Bình. Và cũng là một tuýp sao Thổ rõ rệt¹⁴. Như chúng ta đã lưu ý, cả sao Thổ và Bảo Bình đều có truyền thống lâu dài liên quan tới “u uất”.

Bản đô sao của Lincoln có thể cho chúng ta thấy điều gì? Liệu nó có tiết lộ dấu hiệu điển hình của trầm cảm mãn tính? Sao Thổ ở đây là trội hay bị ảnh hưởng xấu? Cung của sao Thổ hay cung nước được nhấn mạnh? Ông có sinh buổi đêm, mùa đông hay vào lúc trăng trăng tàn?

BẢN ĐỒ SAO
Vui lòng xem từ Danh sách các Dấu hiệu theo các chữ số bên dưới

Mặt trời, Mặt trăng và cung Mọc của Lincoln đều nằm ở cung do sao Thổ cai quản (#2); Mặt trời và cung Mọc ở Bảo Bình, Mặt trăng ở Ma Kết. Bên cạnh đó, bản đồ sao của Lincoln cũng bị Thiếu hụt Nguồn sáng (#3), một vấn đề đã được quan sát ở hai trường hợp trước, Morris và Jennie. Ông được sinh ra vào mùa đông trong chu kỳ trăng tàn. Sao Thổ, hành tinh chủ quản thứ hai của bản đồ sao nằm gần Thiên Đỉnh, (#4) tạo góc hợp với Hải Vương (#4), và cũng ảnh hưởng lên sao Thủy (#4, 9). Sao Thủy nằm ở Song Ngư u buồn (#1). Lincoln là một người trội sao Thổ hoàn hảo. Mặt trăng Ma Kết của ông nằm ở độ thứ 27 của cung này (#8), trong tình trạng “void of course” ở nhà 12 của phiền muộn (#6), đồng thời ảnh hưởng mạnh lên sao Hỏa (#10). Sao Thổ ảnh hưởng trục nhà 3, tinh thần hằng ngày, bằng vị trí nhà đối diện (#7).

Nhận xét: Một chiêm tinh đủ nhận thức sẽ phát hiện ra một khuynh hướng áp đảo của trầm cảm mãn tính trong bản đồ sao của Abraham Lincoln. Một người có thể khẳng định rằng Abraham đã được sinh ra với một sự yếu đuối suốt đời, có thể điều chỉnh nhưng không thể ngăn chặn hoàn toàn. Nghiên cứu của Shenk cho thấy cả cha và mẹ của Lincoln đều có dấu hiệu của nỗi ưu phiền, từ đó cho thấy bản đồ sao có thể phản ánh sự kế thừa từ gene.

Nếu Lincoln nhận ra khuynh hướng trầm cảm mãn tính bẩm sinh của mình, ông ta có thể được cứu giúp? Chiêm tinh học là hữu ích, nếu không thì là mục đích của nó! Những bác sĩ-chiêm tinh gia thời Phục hưng và những thầy thuốc-chiêm tinh gia truyền thống Ấn Độ sẽ có những phạm vi chữa trị rộng hơn trong việc điều chỉnh sự dư thừa và thiếu hụt năng lượng nguyên tố và hành tinh vốn có và được phản ánh trong bản đồ sao gốc của chúng ta.

VỊ TRÍ CỦA CHIÊM TINH HỌC TRONG TRỊ LIỆU

Kiến thức về bản đồ sao cực kì hữu dụng trong việc tìm hiểu và hỗ trợ người mắc phải các bệnh rối loạn tâm thần, bao gồm trầm cảm mãn tính. Độ dài bài viết cho phép chúng ta có một ví dụ ngắn gọn từ Bản đồ sao 1 của Morris.

Bài có thể cùng chủ đề:  Chiêm tinh học về Trầm cảm (1/2)

Chúng ta thấy được rằng làm thế nào mà Morris mắc phải căn bệnh trầm cảm mãn tính từ sự dư thừa nguyên tố nước và năng lượng sao Thổ. Trường hợp của anh là một ví dụ khuôn mẫu về Trầm cảm Mãn tính tính lạnh, ẩm. Các mẫu hình trong bản đồ sao mất cân bằng tổng thể, xuất hiện ít các cung lửa ấm, khô để dung hòa.

Bản đồ sao từ một ngày Trăng Non vào mùa đông, với ba cung nước cho thấy sự thiếu hụt nguồn sáng và không khí. Quả thực, anh bị mắc chứng ngưng thở khi ngủ. “Thầy thuốc Chiêm tinh” ngày ngay có thể gợi ý phương pháp tập luyện hơi thở hoặc ‘Pranayama’. (Các hành tinh cung khí của anh không thể giúp gì nhiều bởi chúng bị nhấn chìm trong nhà nước.)

“Đói khát” năng lượng lửa thể hiện rõ ràng qua việc anh rất lười cho những hoạt động thể chất. Vận động cơ bắp là một phương pháp tuyệt vời cho việc thiếu hụt cung lửa. Vị trí ở cung lửa duy nhất của Morris là Long Thủ ở Bạch Dương – cung của đầu và mắt trong bộ phận cơ thể. Có lẽ trị liệu màu sắc hoặc ánh sáng trực tiếp tới vùng cơ thể này sẽ giúp ích bởi Long Thủ đại diện cho cánh cổng chính đến tự nhiên. Khiêu vũ được yêu thích bởi cung Song Ngư, những người ghét dịch chuyển, nhằm thúc đẩy lượng oxy cần thiết vào cơ thể.

Gan được phân bổ cho sao Mộc và Xử Nữ. Bản đồ sao của Morris cho thấy hai biểu hiện của một lá gan uể oải, sao Mộc rơi vào Ma Kết và sao Thổ ngụ ở Xử Nữ¹³. Cảm xúc của sao Mộc là mở rộng và vui vẻ. Tổn thương gan kéo dài ảnh hưởng đến khả năng cảm nhận những cảm xúc đó ở người bệnh.

Người trội cung Song Ngư đặc biệt phản ứng trong những cách điều trị thông qua tần số rung động như tinh dầu, vi lượng đồng căn, trị liệu bằng đá quý¹⁴ hoặc âm nhạc. Họ đặc biệt nhạy cảm với sự can thiệp siêu nhiên và điều này cần được nghiên cứu thêm trong những trường hợp rối loạn tinh thần. Nơi Song Ngư chiếm ưu thế, (như trong ví dụ của Morris), chúng ta có thể nghi ngờ rằng kí ức tiền kiếp và/hoặc ảnh hưởng tâm linh tiêu cực là một trong những yếu tố góp phần.

Nhà 9 trội của Morris (chứa Mặt trời, Mặt trăng, sao Hỏa) hiển nhiên là trung tâm của cả nguyên nhân và giải pháp. Tuy nhiên, anh ta chống đối tôn giáo (điều có thể đoán được với góc đối căng thẳng giữa sao Hỏa và sao Thổ ở trục nhà 3-9.) Có lẽ một trận đấu tranh xứng đáng sẽ mang lại điều có ích.

Các cung nước ẩm, lạnh theo truyền thống thường được cân bằng bởi các thảo dược và gia vị kích thích. Chúng ta cũng ngờ rằng môi trường lạnh, ẩm, tối sẽ gia ăng nỗi buồn của Morris, như cách mà mùa đông làm. Morris có thể được giúp đỡ nếu phương pháp chữa trị đúng đắn được tìm thấy.

KẾT LUẬN

Thấu hiểu năng lượng chiêm tinh ẩn sau Trầm cảm Mãn tính, thứ được cung cấp thông qua bản đồ sao của người bệnh và quá cảnh (transits) hiện thời, sẽ bổ sung thêm hiểu biết về căn bệnh này. Thật sự, tự thân chiêm tinh học là một trong những hệ thống cổ xưa và tinh vi nhất trong việc vạch định toàn bộ thực thể con người.

Quan điểm truyền thống cho rằng các triệu chứng của ‘u buồn’ được gây ra bởi sao Thổ và sự dư thừa của dịch tương ứng [dịch mật đen], đôi khi là chất nhầy cơ thể và sự ảnh hưởng của các hành tinh vòng ngoài chưa xác định. Thứ kiến thức cổ đại rằng ẩn sau trầm cảm là năng lượng vũ trụ lạnh, ẩm, đen tối và trì trệ là một mỏ vàng thực sự cho các nhà tâm lý học. Chúng ta cũng cần những nghiên cứu mới.

Để hiểu chiêm tinh học về Trầm cảm Mãn tính, trước tiên chúng ta phải biết các triệu chứng chính xác của nó và làm quen với những năng lượng hành tinh, cung, nguyên tố có khả năng gây bệnh. Tôi đã ghi lại mười lăm dấu hiệu có liên quan đến triệu chứng của Trầm cảm Mãn tính.

Vai trò truyền thống của sao Thổ có vẻ là chính xác, cũng như sự nổi trội của các hành tinh ngụ tại cung Ma Kết và đặc biệt là Bảo Bình (có lẽ Ma Kết quá bận rộn làm việc để có ý thức được tình trạng muộn phiền!)

Tuy nhiên, theo quan sát, các cung nước truyền thống dường như phù hợp với các triệu chứng trầm cảm hơn so với các cung đất được cho là buồn bã. Lỗi sai này tồn tại khi dịch thể ‘sầu muộn’ (hay dịch mật đen) của Hippocrate và tính khí ‘u sầu’ được phân bổ cho nó bị đúc kết sai lệch với nguyên tố đất trong chiêm tinh (và do đó với ba cung đất).

Năng lượng phân tán của Hải Vương khi nó trùng hoặc tạo góc hợp căng thẳng với hành tinh khác cũng đóng một vai trò trong căn bệnh này, tương tự với góc trùng của Long Vĩ. Những điểm này khi tiêu cực có thể kích thích chúng ta hoạt động nhiều hơn hoặc khiến chúng ta mất đi sự hăng hái, lãnh đạm hơn và nhạy cảm tâm linh hơn. (Hải Vương được phát hiện khi nó nằm ở cung nước Cự Giải, và giờ đây được xem là đồng chủ tinh cung nước Song Ngư.) Hải Vương thể hiện sự khao khát cho một “phía bên kia” và ước mong thoát khỏi thế giới này. Đây nổi danh là một hành tinh thèm ngủ.

Thiếu hụt nguồn sáng trong bản đồ sao cũng là một vấn đề quan trọng! Sinh vào mùa đông, buổi đêm và các kì trăng tàn có xu hướng trải qua trầm cảm nhiều hơn, đặc biệt khi ba trường hợp trên cùng xảy ra. Thật kỳ lạ, tôi đã quan sát hiện tượng này nhiều năm trước khi ‘Rối loạn cảm xúc theo mùa’ được xác lập lâm sáng và thiếu hụt nguồn sáng được xem là một dạng trầm cảm bị biệt!

Những ví dụ trên cho thấy Trầm cảm Mãn tính có thể xảy ra khi một năng lượng vượt ngưỡng cùng với sự thiếu hụt của năng lượng cân bằng nó. Một chiêm tinh gia có kinh nghiệm học cách đánh giá sự cân bằng năng lượng bằng việc xem xét thế trội của các hành tinh, cung và nguyên tố. Để làm được điều này, chúng ta trước tiên phải ghi nhớ những điều kiện đa dạng của thế mạnh và yếu của một hành tinh trong bản đồ sao, và hiểu làm thế nào để kiểm đếm thực tế các yếu tố (xem mục “Kiểm đếm các Nguyên tố”.)

Thông thường, năng lượng chiêm tinh được sử dụng để xác định sự cân bằng của bốn trạng thái: nóng, lạnh, ướt và khô. Chúng ta có thể thêm vào tối và sáng, nhanh và chậm. Ẩn dưới các tình trạng rối loạn tinh thần và thể chất thường là sự mất cân bằng cực độ.

Tóm lại, sự mất cân bằng năng lượng tổng thể tạo điều kiện cho Trầm cảm Mãn tính xảy ra khi bản đồ sao thiên về tính lạnh/ướt cùng với sự thiếu hụt tính nóng/khô. Lạnh/khô cũng biểu thị trầm cảm. Chúng ta đã chứng minh rằng sự u tối không có ánh sáng là điều kiện cho trầm cảm xảy ra. Giờ khắc sinh vào buổi tối mùa đông trong kì cuối của trăng hoặc trăng non là thường thấy. Tính trì trệ không có sự nhanh nhảu cũng là một yếu tố.

Ngoài ra, chẩn đoán và điều trị rối loạn tâm thần, bao gồm trầm cảm, sẽ có ích rất nhiều khi xem xét các nguyên nhân bệnh bị đè nén lâu dài. Trong Physick của Blagrave, thầy thuốc-chiêm tinh gia thời Phục hưng Joseph Blagrave đã ghi chú về những phương pháp chữa trị tuyệt vời dành cho bệnh nhân tâm thần bằng cách chữa trị chứng táo bón của họ, hoặc đôi khi bằng cách loại bỏ những nguyên nhân xấu hơn.

Đã đến lúc kiểm tra lại giá trị của ít nhất ba căn nguyên bệnh truyền thống không còn được chấp nhận với tâm thần học hiện đại: chiêm tinh học, sự nhiễu loạn siêu nhiên, và ảnh hưởng từ kí ức tiền kiếp. Để tạo điều kiện cho việc này, tôi đã lập nên Hội nghị Bí mật Bị Mất của Y học Phục hưng và Chiêm tinh y học 101.

Hiểu được năng lượng hành tinh từ góc nhìn thể chất và tinh thần giúp chúng ta hạn định được thế giới của những rung động vô hình bị mọi người bỏ qua, ngoại trừ những người thực hành tâm thần học không chính thống.

Chúng ta hãy trông chờ vào ngày chiêm tinh học được khôi phục lại như một công cụ hữu dụng trong việc kiểm tra những năng lượng tiềm ẩn và những dòng chảy biến đổi của vũ trụ góp phần gây nên tâm thần bệnh, bao gồm Trầm cảm Mãn tính.

Như “nhà trị liệu-chiêm tinh gia” đại tài Nicholas Culpepper đã nói:
“Một nhà trị liệu không dùng đến chiêm tinh học như một cái bánh pudding không béo”.

__

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Matthew Wood, The Practice of Traditional Herbalism, Chương 1, “The Forgotten Energetics of Western Medicine”, North Atlantic Books, Berkeley, CA.
  2. Claudius Ptolemy, Ptolemy’s Tetrabiblos, (140 A.D.) Chương 4, tr. 13; Chương 16, tr.101, Aries Press, Chicago, Ill., 1936, 1944.
  3. Patrick Ball, An Astrolo-Physical Compendium, tr. 14, London, 1794.
  4. Cornell, M.D., D.A., The Encyclopaedia of Medical Astrology, H.L. tr.112, “cold”, Llywellyn Publications, St. Paul, Minnesota, 1972.
  5. Daniel De Foe, A Journal of the Plague Year, (viết năm 1722), tr. 20-21, ghi chú 9. W.W. Norton và Company, New York, NY, 1992.
  6. Joseph Blagrave, bt. William Roell, 2010, Blagrave’s Astrological Practice of Physick, (1671), tr. 180.
  7. C.E.O. Carter, B.A.,The Encyclopedia of Psychological Astrology, tr. 125 Theosophical Publishing House, 1972.
  8. Patrick Logan, Irish Country Cures, tr. 7, 61, 163-164, Apple Tree Press, Belfast, 1981. Conrad M. Arensberg, The Irish Countryman: An Anthropological Study, Chương 6: “The Good People”, American Museum Sciences Books, Garden City, NY, 1937, 1968.
  9. Judith Hill, Audio: “Supernatural Classes of Disease”, The Renaissance Medicine Conference ©, Portland, Oregon 2013.
  10. Dr. A.K. Bhattacharya và Dr. D. N. Ranchandra, The Science of Cosmic Ray Therapy or Teletherapy, Firma KLM Private Limited, Calcutta 1972, tái bản 1976.
  11. Maseru Emoto, The Hidden Messages in Water, Atria Books, 2011.
  12. Judith Hill, The Astrological Body Types, tr. 88, 137, bản chỉnh sửa 1997, Stellium Press, 1993, 1997, bản chỉnh sửa 2011.
  13. Judith Hill, Medical Astrology: A Guide to Planetary Pathology, Stellium Press, 2005.
  14. Harish Johari, The Healing Power of Gemstones in Tantra, Ayurveda, Astrology, Destiny Books, Rochester, VT, 1988.

TÀI LIỆU ĐÓNG GÓP

The Astrological Judgement of Diseases from the Decumbiture of the Sick, Nicholas Culpepper, 1655, Astrological Classics, bản in của The Astrology Center of America, Astrological Classics, The Astrology Center of America.

The Greatest Benefit to Humanity: The Medical History of Humanity, Roy Porter, 1997, W.W. Norton & Company, NY, London.

Devils, Drugs and Doctors, tr. 369-371, Howard W. Howard, Blue Ribbon Books, 1929.

Paracelcus: Magic into Science, tr. 114, Henry Pachter, Collier Books, 1961.

Christian Astrology, William Lilly, 1947, tr.. 576-586, Astrological Classics, Astrology Center of America, tái bản 2001.

The Ancient Astrological Gemstones and Talismans, Richard, S. Brown, 1995.

Davidson’s Medical Lectures, Chương 3,4,5, bt. Vivia Jayne, Astrological Bureau, Monroe, NY.

The Cosmic Clocks, Chương 9, 12, Michel Gauquelin, Avon Books, 1969.

“Saturn as Fundamental”, tr. 34, Medical Astrology, Judith Hill.

New York- “Understanding Depression in the Jewish Population”, VIN NEWS by Rabbit Doctor Abraham J. Twerski., March 3, 2010.

“Higher Rate of Depression Found in Jewish Men”, The Associated Press, May 23, 1995.

__

Judith Hill dành cả đời là một chiêm tinh gia tư vấn, nhà nghiên cứu, nhà xuất bản và tác giả nhiều giải thưởng của mười quyển sách bao gồm Medical Astrology, Your Guide to Planetary Pathology và quyển tiêu biểu The Astrological Body Types. Bà từng là Giám đốc Giáo dục cho Hội đồng Nghiên cứu Địa hình Quốc gia San Francisco, thành công trong việc ghép năm bản đồ sao với năm hồ sơ tương ứng trong thử thách của phía hoài nghi vào năm 1989.

Bà làm việc mười năm trong lĩnh vực nghiên cứu thống kê chiêm tinh học, nhận được trợ cấp nghiên cứu không yêu cầu từ nhà vật lý Arthur Young; và đưa ra hai bản trích lục nghiên cứu nổi tiếng: “The Mars-Redhead Files” cùng Jacalyn Thompson và “Astro-Seismology” cùng M. Polit. Là một nhà tiên phong trong chiêm tinh-địa chấn học và chiêm tinh-di truyền học, bà đã thành lập Dự án Nghiên cứu về Mars-Redhead, Stellium Press và “Ngày Nghiên cứu của Hội đồng Nghiên cứu Địa hình Quốc gia” đầu tiên của San Francisco. Với tư cách là một chiêm tinh gia y học và nhà thảo dược được đào tạo toàn diện và đủ tư cách hành nghề, bà lập ra Hội nghị Thường niên về Bí mật Bị mất của Y học Trung cổ tại Portland.

Website của bà là https://www.judithhillastrology.com.

__

Dịch từ Judith Hill, The Astrology of Depression (đăng tải lần đầu tiên tại http://www.skyscript.co.uk với sự biên tập của Paul Kiernan) dưới sự cho phép của tác giả.

Copyright © by Judith Hill | Bản dịch © Saturn Cafe

Ảnh: Masahisa Fukase. Wakkanai, từ bộ ảnh Solitude of Ravens, 1975.

Write a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *