Chiêm tinh học về Trầm cảm (1/2)

Chiêm tinh học về Trầm cảm | The Astrology of Depression - Judith Hill

Những cái nhìn sáng suốt nào có thể rút ra từ bản đồ sao trong việc chẩn đoán tâm thần của “Trầm cảm Mãn tính?”

Được biết đến phổ biến trong tiếng lóng Mỹ là “the blues”, Trầm cảm Mãn tính, hoặc “dysthymia”, được đặc trưng bởi nỗi buồn kéo dài và sự mệt mỏi. Người bệnh không thể thay đổi tâm trạng theo ý muốn bản thân và có thể mất nhiều năm đắm mình vào nỗi buồn phiền, thất vọng, tội lỗi, tiếc nuối, và suy nghĩ tự sát. Họ cảm nhận một sự hững hờ từ sâu thẳm và cảm thấy cuộc sống trống rỗng niềm vui. Cảm giác ngon miệng và cân nặng cũng có thay đổi. Thường thấy nhất là việc ngủ quá nhiều, hoặc theo hướng khác là mất ngủ. Các giai đoạn có thể kéo dài từ vài tuần đến vài năm, và thường tái diễn. Tình trạng này không phải bị gây ra bởi đau buồn, thuốc kích thích hoặc hoàn cảnh căng thẳng.

Nhiều người mắc trầm cảm mãn tính trải qua những giai đoạn tạm thời của thứ có bản chất nghiêm trọng hơn, ‘Trầm cảm Trọng chính’. Sự kết hợp này được gọi là “trầm cảm kép”. Vì mục đích của chúng ta trong bài viết này, toàn bộ phạm vi của Trầm cảm Mãn tính và Trọng chính sẽ được đề cập đến như Trầm cảm Mãn tính.

Là các chiêm tinh gia, chúng ta có thể giả định rằng đúng thế, bản đồ sao sẽ cho thấy sự xuất hiện vượt mức của các năng lượng chiêm tinh gây ra trầm cảm. Bài viết này và ba trường hợp nghiên cứu trong bài sẽ xem xét các ‘dấu hiệu’ chiêm tinh điển hình của Trầm cảm Mãn tính.

Hãy đặt một câu hỏi thứ hai, đi thẳng vào vấn đề hơn: Liệu tâm thần bệnh học có được lợi ích gì từ việc hiểu rằng các năng lượng chiêm tinh có thể bộc lộ bản thân chúng thành trầm cảm mãn tính?

Sau cùng, hiểu biết chiêm tinh về năng lượng hành tinh và nguyên tố trong các căn bệnh tâm thần đã xuất hiện trước tâm thần bệnh học hàng thế kỉ!

Các dạng Trầm cảm được phân định hiện nay

Tâm lý học Lâm sàng hiện phân định ra chín dạng trầm cảm: Trầm cảm Mãn tính; Trầm cảm Trọng chính; Trầm cảm Sau sinh; Rối loạn Cảm xúc Theo mùa; Trầm cảm Không điển hình; Trầm cảm Loạn tâm thần; Rối loạn Lưỡng cực, Rối loạn Tiền kinh nguyệt hoặc trước những Tình thế căng thẳng. Chúng ta chỉ có không gian để bàn về Trầm cảm Mãn tính, trọng tâm riêng biệt của chúng ta trong nghiên cứu này.

Cái nhìn truyền thống về Trầm cảm

Các thầy thuốc-chiêm tinh gia thời Phục hưng đã công nhận và ghi chép về năng lượng của những hành tinh, cung, nguyên tố và ‘dịch thể’ được cho là nguyên nhân của trầm cảm, hay “sầu muộn”. Chúng ta có chỗ cho một cuộc khảo sát ngắn gọn về những suy nghĩ này. Điều quan trọng cần lưu ý chính là dấu hiệu căn nguyên chiêm tinh được xem như một trong nhiều nguyên nhân có thể, trong khi các bản đồ sao được xem xét (dưới đây) nhằm xác định tất cả những nguyên nhân có thể đã dẫn đến tình trạng đau bệnh. Căn nguyên từ các hành tinh đã được các thầy thuốc thời Trung Cổ và Phục hưng chấp nhận hoàn toàn như một bệnh nguyên chính yếu của căn bệnh tinh thần và thể chất.

Theo truyền thống, tất cả các căn bệnh được cho là sự kết tủa của việc mất cân bằng bốn tính chất: nóng, lạnh, khô và ẩm ướt.¹ Có rất nhiều lý do (bao gồm cả việc khó đi tiêu) được đưa ra để giải thích việc mất cân bằng dịch thể diễn ra như thế nào, kể cả các chùm hành tinh! Vậy đấy, các hành tinh có thể làm bạn đau ốm.

Các thầy thuốc cổ đại chủ yếu quan tâm đến dòng chảy cùng sự cân bằng của nhiệt độ và độ ẩm. Trầm cảm được ghi nhận là mang năng lượng lạnh/khô hoặc lạnh/ẩm. Các căn nguyên chiêm tinh của trầm cảm thường được phân bổ cho nhiều nguồn gốc, nhưng chủ yếu là do ảnh hưởng lạnh của sao Thổ²-³ hoạt động riêng biệt hoặc do cung mà nó cai quản, Ma Kết và Bảo Bình. Bách khoa toàn thư về Chiêm tinh Y học của Tiến sĩ H.L. Cornell liệt kê “sầu muộn” và “trạng thái đau ốm của thân và tâm” dưới mục sao Thổ.⁴ Quan điểm này được công nhận rộng rãi trong thời cổ đại.⁵

Mang trách nhiệm tương đương với sao Thổ là sự dư thừa của “dịch sầu muộn” lạnh, khô — dịch đen của mật; và đôi khi là sự vượt ngưỡng của “dịch lãnh đạm” lạnh, ướt — hay còn gọi là chất nhầy (giải thích rõ hơn bên dưới).

Các năng lượng hành tinh, bên cạnh nhiều nguyên nhân được biết khác gây ra sự mất cân bằng của bốn dịch thể, cũng thúc đẩy trầm cảm xảy ra. Điều này có thể xảy ra tại thời điểm sinh (bản đồ sao gốc), hoặc bởi quá cảnh.

Sự sa sẩy u sầu: Tại sao không nên đánh đồng bốn Nguyên tố và bốn Dịch thể

Đoạn nhỏ này đưa chúng ta đi một đoạn đường vòng hữu ích khỏi chủ đề chính của bài viết. Những bạn đọc nào không quan tâm đến sự nhầm lẫn y học được đúc ép từ nguyên tố chiêm tinh với dịch thể cổ đại có thể bỏ qua đoạn này để tiến tới đoạn tiếp theo “Các Cung Nước và Trầm cảm Mãn tính”. Nếu bạn là một Chiêm tinh gia Y học, phần đọc này là cần thiết.

Tuýp trầm cảm “lãnh đạm” được xem là điển hình của các cung nước6 (Cự Giải, Thiên Yết, Song Ngư). Tuy nhiên, các cung đất (Kim Ngưu, Xử Nữ, Ma Kết) đã trở nên gắn bó mật thiết với trầm cảm dù cho tính thực tế của chúng không phù hợp lắm với các triệu chứng điển hinh của Trầm cảm Mãn tính⁶. Câu đố này đã xảy ra như thế nào?

“U sầu”, một từ thay thế cho trầm cảm, có nghĩa đen là “mật đen” từ tiếng Hy Lạp melas, “đen” + khole, “mật”. Chất dịch cơ thể này được tin là nguyên nhân của trầm cảm, tức sự “u sầu” khi vượt quá ngưỡng. (Nhiều thế kỉ sau đó, mật đen được phát hiện là không tồn tại và cũng không phải là chất màu nâu-xám đôi khi được tìm thấy trong máu thay vì mật.)

Hippocrates (460-370TCN) là cha đẻ của thuyết về bốn dịch thể trong sức khỏe. Thế là có bốn nguyên tố chiêm tinh và bốn dịch trong cơ thể! Hơn nữa, bốn dịch thể ở mức vượt ngưỡng được bộc lộ thành bốn “tính khí” thể chất-tâm lý của con người: Nóng nảy, U sầu, Lạc quan và Lãnh đạm. (Những tính khí này không đồng nhất với thứ đi trước chúng, bốn ‘nguyên tố’.)

Những dịch thể và những tính khí được đo ni đóng giày cho chúng được ấn định cả về mức độ nhiệt độ và độ ẩm theo cách sau: mật vàng–nóng nảy: nóng/khô; mật đen–u sầu: lạnh/khô; máu–lạc quan: nóng/ẩm; và chất nhầy–lãnh đạm: lạnh/ẩm.

Mọi việc chắc chắn trông có vẻ đối xứng một cách thanh nhã khi ghép bốn dịch thể và bốn tính khí của chúng với bốn nguyên tố ban đầu, mà không hề tính đến việc những nhóm này có thể không đồng nhất với nhau. Bốn tính khí đã được ấn định theo bốn nguyên tố theo cách sau: Nóng nảy–Lửa; U sầu–Đất; Lãnh đạm–Nước; Lạc quan–Khí. Hệ thống này sụp đổ khi xem xét riêng lẻ các cung.

Dịch ‘mật đen’, hay sự u sầu, được chỉ định là tác nhân trao đổi chất của thứ nó nối dõi từ trước đến nay, nguyên tố đất. Lập luận theo sau đó là bởi vì mật đen “gây ra” trầm cảm, và thuộc nguyên tố đất, thế nên những cung đất hẳn phải có bản chất trầm cảm (ngay cả khi những đặc tính tai tiếng của các cung nước phù hợp với những triệu chứng của Trầm cảm Mãn tính nhất!)

Thật không may là sự đánh đồng không chính xác của bốn dịch thể giả định này với bốn nguyên tố chiêm tinh “của chúng” đã trở thành tiêu chuẩn trong các tài liệu cổ đại như một cách điển hình để bưng bít tất cả lời đề cập đến bản thân các nguyên tố!

Điều này gây ra rất nhiều nhẫm lẫn trong chẩn đoán bởi hai hệ thống không đồng nhất với nhau. Ví dụ như Bảo Bình, một cung giữa-Đông, cai quản bởi sao Thổ, được liệt kê chính xác là “tính lạnh” trong các tài liệu chiêm tinh cổ. Bảo Bình là kiểu cung hoàng đạo điển hình cho những cung lạnh lùng nhất. Giữa-Đông thường là thời gian lạnh nhất năm!

Tuy nhiên, từ khi lý thuyết bốn dịch thể xuất hiện, thì tất cả ba cung khí, bao gồm Bảo Bình, được phân loại vào dịch “lạc quan” và do đó được liệt kê như là “nóng và ẩm”, và hài hước nữa chứ, theo các tài liệu khác! Thuộc tính nóng không có nghĩa lý gì đối với Bảo Bình bởi tính khí và đặc tính y học của cung hoàng đạo này hoàn toàn thiên về lạnh, không phải nóng! (Bảo Bình được biết đến nhiều cho đôi bàn chân lạnh lẽo của mình, lưu thông máu kém, trầm cảm, thiếu máu, huyết áp thấp và chứng giãn tĩnh mạch.)

Bài có thể cùng chủ đề:  một tính cách có thật

Một lập luận khác chống lại sự đồng nhất giữa bốn dịch thể và bốn nguyên tố chính là thiếu mất tính khí “ấm và nguội”. Trong thuyết dịch thể, các cung cùng nguyên tố được gộp chung với nhau dưới dịch thể được ấn định “của chúng”, và do đó phải là “nóng” hoặc “lạnh”. Không may thay, sự sống không vận hành theo cách này! Và các cung hoàng đạo cũng vậy.

Các cung quá biến động để có thể gộp chung lại với nhau bởi một nguyên tố dưới một nhiệt độ khắc nghiệt. Lấy ví dụ, các cung khí (Song Tử, Thiên Bình, Bảo Bình) đều được cho là “nóng”, chỉ bởi vì dịch thể được ấn định “của chúng” (máu) được phân loại như vậy. Theo kiểm tra thể chất và tâm lý, Song Tử và cả Bảo Bình đều không nóng, nhưng chúng ta dễ dàng nhận thức được nhiệt độ của Thiên Bình là “ấm.” Tuýp Thiên Bình điển hình chính xác là như thế, không nóng cũng không lạnh, mà là ấm. Thiên Bình, sau tất cả, là cung của sự cân bằng!

Câu đố tương tự dành cho nửa sự phân chia dịch thể còn lại: đó là nhiệt độ: ẩm/khô. Lấy ví dụ, nguyên tố đất được phân loại là “khô” bởi dịch thể được ấn định ở đây, “mật đen” được cho là khô. Do đó, tất cả ba cung đất (Kim Ngưu, Xử Nữ, Ma Kết) giờ đây phải theo sau và cũng phải “khô”! Nhưng, chúng có thế không?

Dễ dàng tranh luận rằng Kim Ngưu, một trong những cung màu mỡ và lôi cuốn nhất khó thể nào là “khô”. Kim Ngưu cũng không hứng chịu cùng mức độ lo lắng “khô khan” như hai cung đất Xử Nữ và Ma Kết. Thực tế, các cá nhân Kim Ngưu nổi tiếng với mái tóc bóng mượt, đôi môi khêu gợi và sự gợi cảm của họ. Và, tại sao thời điểm màu mỡ nhất trong năm lại có năng lượng “khô”? Nó hoàn toàn không hợp lẽ!

Các cung là sự kết hợp của năng lượng nguyên tố, hành tinh, cách thức (modes) và mùa vụ. Hiểu được điều này sẽ giúp chúng ta dễ dàng thấy được rằng mặc dù một cung được ấn định vào nhóm nguyên tố của nó, nó cũng không phải là bản thân nguyên tố đó. Ngược lại, nguyên tố cũng không phải là một cung hoàng đạo! Và các nguyên tố cũng không đồng nhất với bốn dịch thể (ý chính của tôi!)

Lời khuyên tốt nhất tới các chiêm tinh gia bối rối là hãy sử dụng bốn nguyên tố cổ điển (lửa, đất, khí, nước) và không đồng nhất chúng với bốn dịch thể sau này và bốn tính khí đến khi bạn nhận thức được sự khác biệt sâu sắc giữa chúng. Một người có thể chẩn đoán được sự mất cân bằng nguyên tố trực tiếp từ bản đồ sao, mà không cần kiểm tra sức khỏe. Tuy nhiên, sự mất cân bằng dịch thể phải được xác minh từ quan sát trực tiếp, như mục đích sử dụng y học của nó.

Các cung Nước và Trầm cảm Mãn tính

Về trầm cảm, tính cách cổ xưa của các cung nước khi vượt ngưỡng bình thường phù hợp chính xác với các triệu chứng của trầm cảm mãn tính, tức ‘u sầu’ nhiều hơn so với các cung đất thực tế và cứng nhắc. (Cá nhân tôi, tôi không quan sát được nhiều người cung đất thể hiện triệu chứng “uể oải/năng suất kém” của cơn bệnh này.)

Tuy nhiên, Song Ngư, Cự Giải và Thiên Yết trong lúc ưu phiền thật sự nổi danh với việc thể hiện tất cả những triệu chứng lâm sàng của trầm cảm mãn tính: mệt mỏi, thu mình, đau buồn, thương xót, lãnh đạm, không vui thú với cuộc sống, không muốn vận động, sợ hãi, vô vọng, thả trôi bản thân và có ý nghĩ tự tử, cộng thêm tình yêu sâu sắc với giấc ngủ. Các cung nước cũng chính là ba cung “câm lặng” trong truyền thống, và có bản chất liên quan đến nhà 8 của cái chết cùng nhà 12 của ưu phiền. Khóc cũng là một hoạt động mang tính nước!

Bàn luận của C.E.O. Carter về ‘U sầu’ trong Bách khoa toàn thư về Chiêm tinh Tâm lý học của ông ấy viết6 “các cung nước đều có xu hướng ủ rũ”. Bất kì sự xem xét ngẫu nhiên nào thông qua miêu tả về cung hoàng đạo của Song Ngư được viết bởi các tác giả nổi danh đều cho ra các từ khóa (tiêu cực) như “nhạy cảm”, “than vãn”, “chối bỏ bản thân”, “lười nhác”, “cam chịu”, vân vân. Tai tiếng này trước sau không thay đổi.

Mặc dù một số tuýp Song Ngư rất vui vẻ, nhưng nếu bạn muốn học cách nhận ra tuýp cung nước trầm cảm, hãy quan sát ảnh hưởng chung và giọng hát của sáu Song Ngư nổi tiếng sau: Johnny Cash, Ralph Nadir, George Harrison, James Taylor, Brian Jones và Kurt Cobain. Có lẽ chúng ta nên kể đến Billie Holiday và Marilyn Monroe, những người có tác động khá yếu mềm được phản ánh bởi Mặt trăng Song Ngư của họ! Bạn đã tưởng tượng ra chưa? (Bạn đọc Song Ngư, Cự Giải và Thiên Yết vui lòng chú ý rằng sinh ra vào những ngày cung nước không đảm bảo rằng bạn sẽ bị trầm cảm và tất cả cung hoàng đạo đều có nỗi đau tinh thần riêng của mình! Thật vậy, sự nhạy cảm vốn có của bạn thực tế đã sản sinh ra nhiều thiên tài vĩ đại của thế giới.)

Mô tả về trầm cảm của Joseph Blagrave năm 1658 (dưới đây) có lẽ là mô tả hành vi cụ thể nhất còn tồn tại trong những tư liệu đầu tiên. Ông đưa ra các triệu chứng⁷:

“Và những người từ bản chất đã U sầu, Điên loạn, thường vướng phải buồn rầu, thở hắt, nhiều im lặng, ít khi hài lòng. Và những người từ bản chất đã Điên cuồng Hờ hững, thường chậm chạp, rỗi rãi, không quan tâm đến việc phải làm gì, trừ khi bị bắt buộc, và dành nhiều thời gian để ngủ, sẽ chỉ nằm trên giường hai hoặc ba ngày liên tiếp nếu không bị quấy rầy.”

Blagrave không có kiến thức về sự phân loại chín dạng trầm cảm hiện nay của chúng ta, và nhận xét của ông dựa trên mô hình năng lượng Hy Lạp cũ, không còn được biết đến nhiều. Chúng ta phải nhớ rằng khi ông nói đến những ai “từ bản chất đã U sầu”, thực chất ông đang bàn đến sự vượt trội của một dịch thể, không phải về các cung đất. Tuy nhiên, khi các cung đất đã được ấn định cho dịch thể này, thì hai thứ (cung đất và dịch thể u sầu) có thể được thay thế cho nhau. Tương tự với ‘dịch Lãnh đạm’, hoặc bạch huyết có thể được thay thế bởi những cung nước hiển nhiên ẩm ướt. (Dịch nóng nảy, hay mật vàng, được cho là thuộc lửa, và dịch lạc quan, máu, được phân bổ cho khí.)

Về cá nhân, tôi nhận thấy các cung nước (đặc biệt là Cự Giải và Song Ngư) chiếm ưu thế trong việc thể hiện các triệu chứng Trầm cảm Mãn tính, bên cạnh cung của sao Thổ: Ma Kết và Bảo Bình. Cung nước Thiên Yết biểu lộ nhiều xu hướng dẫn đến căn bệnh khắc nghiệt hơn, Trầm cảm Trọng chính.

Các triệu chứng của Trầm cảm Mãn tính phù hợp với miêu tả của các cung nước khi thể hiện cực đoan hơn là các tính cách được mong đợi ở một bản đồ sao nhiều đất (như thực tế, có trách nhiệm, ổn định, điềm tĩnh, chăm chỉ, cứng rắn.) Có những trường hợp ngoại lệ cho tất cả quy tắc, nhưng hiển nhiên là Trầm cảm Mãn tính thể hiện những tính cách được biết đến như là sự cực đoan của cung nước kết hợp với các cung của sao Thổ và những dấu hiệu hành tinh đặc biệt được liệt kê dưới đây.

Kiểm đếm Nguyên tố: Một lời Báo trước

Có nhiều hệ thống khác nhau đang hoạt động cho việc kiểm đếm các nguyên tố trong một bản đồ sao nhằm xác định nguyên tố trội hoặc nguyên tố thiếu. Tuy nhiên, nếu không hiểu biết đúng đắn sự pha trộn của các hành tinh và cung hoàng đạo, chúng ta rất dễ dàng lạc lối!

Ví dụ như, nếu một bản đồ sao chỉ có một hành tinh ở cung nước, và hành tinh đó là sao Thổ, chúng ta sẽ có nước “đóng băng”. Trường hợp này hầu như không giúp ích gì cho một bản đồ sao thiếu các cung nước. Sao Thổ đè nén tính lửa, và điều này cũng phải được chú ý khi nó là hành tinh duy nhất được tìm thấy trong cột cung lửa. Sao Thổ, với tính đất, củng cố cho nguyên tố đất và cung cấp một năng lượng kiên định dễ chịu trong các cung khí, bằng việc giảm tốc độ của nó.

Bài có thể cùng chủ đề:  Chiêm tinh học về Trầm cảm (2/2)

Các đặc tính của sao Hỏa cũng phải được nắm rõ trước khi cho rằng hành tinh nóng nảy này củng cố thêm năng lượng của nguyên tố mà nó thuộc về trong bản đồ sao gốc. Sao Hỏa kích thích khí và đun sôi nước cơ mà!

Ta cũng phải biết cách phân định sức nặng, hay tầm quan trọng của một hành tinh đang được kiểm đếm theo nguyên tố. Hành tinh vòng ngoài là như nhau đối với cả thế hệ, do đó không nên luôn được đặt nặng như hành tinh cá nhân, và cũng phải tính đến những ý nghĩa thông thường trước khi tính điểm cho các tiểu hành tinh nữa! Hiển nhiên là hai “nguồn sáng” Mặt trời và Mặt trăng nên nhận được nhiều điểm hơn.

Nghiên cứu Thưa thớt

Nghiên cứu chiêm tinh gần đây trong lĩnh vực sức khỏe tâm thần là thưa thớt nhất, các tác giả cổ đại hoặc Trung cổ cũng hạn chế bình luận của họ trong những trường hợp đơn lẻ, các bàn luận về dịch thể, những danh sách phức tạp của các dấu hiệu mà không hề có ví dụ, hoặc các tài liệu được lặp đi lặp lại một cách thiếu suy xét trước đó. Theo tôi được biết đến nay, rất ít các trường hợp phức tạp ở thời cổ đại hoặc Trung cổ được nghiên cứu cùng với các triệu chứng có dẫn chứng từ tài liệu, kèm theo các bản đồ sao mẫu về Trầm cảm Mãn tính (hoặc các bệnh tâm thần khác). Công trình của bác sĩ Joseph Blagrave thời Phục hưng đã đưa ra một số tài liệu vắn tắt về các triệu chứng bệnh án.

CĂN NGUYÊN THẤT LẠC CỦA TRẦM CẢM VÀ CÁC BỆNH TÂM THẦN KHÁC (BỆNH NGUYÊN HỌC)

Chẩn đoán lâm sàng có thể thu được lợi ích từ việc xem xét lại các căn nguyên bị thất lạc của bệnh trầm cảm trong việc áp dụng hàng loạt mô hình sinh-hóa học của phương Tây hiện đại. Các bác sĩ thời Phục hưng dành phạm vi rộng hơn cho các nguyên nhân gây ra trầm cảm hơn chúng ta ngày nay, bao gồm: sốc, táo bón, đau buồn, bị bỏ bùa mê, vấn đề tưởng tượng (fairy problems)⁸, rối loạn tinh thần⁹, mất cân bằng bốn dịch thể, nguyên tố chiêm tinh và/hoặc năng lượng hành tinh¹⁰. Nếu được gộp chung, nhiều dạng trầm cảm được công nhận trước đây sẽ được thêm vào “chín nguyên nhân” lâm sàng ngày nay, tính cả dạng trầm cảm có căn nguyên bởi chiêm tinh!

Nếu ta chấp nhận thuyết luân hồi, (như hầu hết các chiêm tinh gia Ấn độ) thì những kí ức tiền kiếp chưa được giải quyết sẽ là một căn nguyên hợp lý cho tình trạng phiền muộn không giải thích được, cấu thành nên dạng trầm cảm thứ mười: “dư vị tiền kiếp”! Các chiêm tinh gia hiện đại được tự do xem xét những căn nguyên gây bệnh hiện đã lỗi thời này. Lấy ví dụ, một người bạn chia sẻ rằng ở tuổi 60, ông ta phát hiện ra rằng ý nghĩ tự sát đeo bám mình nhiều năm được gây ra bởi một vong hồn của một người bạn thời thơ ấu đã tự sát. Một khi ông hóa giải được vong hồn đó, vấn đề tiêu tan. Nghe vô lý?

Chiêm tinh học cho rằng có một số kiểu mẫu hành tinh nhất định gây ra trầm cảm theo những cách mà chúng ta không thấu hiểu được hoàn toàn. Người ủng hộ thuyết luân hồi sẽ nhìn thấy bản đồ sao phản ánh chính xác những nguyên nhân tiền định từ kiếp trước. Từ quan điểm này, nhiều người trong chúng ta bước vào đời với gánh nặng nỗi đau, tội lỗi, những lo sợ nhất định, oán giận hoặc nuối tiếc.

Các nhà tâm lý học chắc chắn tra hỏi về những ảnh hưởng thời thơ ấu có thể gây nên trầm cảm, nhưng hiếm khi xét đến những nguyên nhân lùi xa hơn trong chuỗi DNA, và có thể loại bỏ kí ức tiền kiếp rằng chúng không có căn cứ.

Nỗi đau gia đình truyền theo dòng họ, cũng phần lớn bị bỏ qua, có thể được nhìn thấy trong bản đồ sao! Có phải thương chấn gia đình này bằng cách nào đó in dấu trong DNA của nạn nhân trầm cảm? Tất cả những khả năng này điều đáng xem xét. Tuy nhiên, thực tế đáng buồn là các nhà tâm thần học ngày nay dành phạm vi hẹp hơn và ít bao quát hơn cho việc xác định các nguyên nhân gây ra Trầm cảm Mãn tính hơn là những người tiền nhiệm của họ!

Tài liệu tâm lý học hiện đại đã khám phá ra những căn nguyên khác của bệnh trầm cảm như ‘Rối loạn cảm xúc theo mùa’, thứ rất rõ ràng trong các bản đồ sao “thiếu hụt nguồn sáng” (xem dấu hiệu #3 bên dưới).

Bản đồ sao kì diệu có thể nhìn vào tất cả những khả năng này, và đã một lần được sử dụng như vậy!

DẤU HIỆU CHIÊM TINH CỦA TRẦM CẢM MÃN TÍNH: PHẦN MỞ ĐẦU

Cần Nhiều Dấu hiệu xác thực:

Luôn tìm kiếm đến “ba dấu hiệu”. Trầm cảm Mãn tính có thể xảy ra nếu quan sát thấy trong cùng một bản đồ sao có từ ba dấu hiệu được liệt kê bên dưới. Nếu chỉ xuất hiện một trong mười lăm dấu hiệu, đừng vội kết luận người đó sẽ mắc phải căn bệnh này. Phần lớn mọi người đều có bản đồ sao chứa một trong những dấu hiệu được liệt kê! Năm dấu hiệu đầu tiên trong danh sách sẽ có tầm quan trọng nhỉnh hơn. Chúng là những dấu hiệu chỉ ra khá rõ căn bệnh.

Sự Mất cân bằng Tổng thể của các Năng lượng Chiêm tinh:

Nếu các dấu hiệu chiêm tinh được liệt kê ở đây xảy ra đồng thời với sự thiếu hụt của năng lượng đối nghịch và năng lượng cân bằng chúng, chúng ta sẽ có một sự mất cân bằng tổng thể, như trò bập bênh chỉ có một hướng vậy!

Điểm quan trọng này không thể được nhấn mạnh nhiều hơn nữa! Tình trạng tâm thần quá khích xảy ra cùng với sự một chiều cực đoan trong chiêm tinh. Như một người sinh ra với bản đồ sao trội nước và một Mặt trăng trội (thứ cũng có ảnh hưởng ẩm, lạnh), sẽ bị đẩy đến một ngưỡng vô cùng của nguyên tố nước nếu họ cũng thiếu tính ấm và khô của các cung lửa và/hoặc thiếu một Mặt trời hay sao Hỏa mạnh trong bản đồ sao. Và ngược lại. (Dấu hiệu #11-12)

Những gì được kể đến trong Mười lăm Dấu hiệu của Trầm cảm Mãn tính:

Mặc dù tôi đã lập nên danh sách mười lăm dấu hiệu của Trầm cảm Mãn tính dưới đây từ nhiều thập kỉ quan sát, không thể phủ nhận rằng các nhà nghiên cứu khác phải, và sẽ tiếp tục tìm ra những phát hiện mới! Ví dụ như, các trung điểm và tiểu hành tinh đã bị bỏ qua ở đây. Tôi đã giới hạn những trường hợp nghiên cứu của mình trong các kiểu mẫu nguyên tố, hành tinh, cung và nhà dễ nhận thấy một cách rõ ràng nhất. Việc phân ra các dấu hiệu – mà dễ dàng thấy chúng cùng chia sẻ nguồn năng lượng với nhau – từ những kiểu mẫu độc nhất trong bản đồ sao cá nhân có phần giống với dã tràng xe cát, nhưng nó có thể gần với sự thật. Sau tất cả, đây là môn hóa học của những rung động vũ trụ cùng kết hợp.

(Xem tiếp phần 2 tại đây)
__

Judith Hill dành cả đời là một chiêm tinh gia tư vấn, nhà nghiên cứu, nhà xuất bản và tác giả nhiều giải thưởng của mười quyển sách bao gồm Medical Astrology, Your Guide to Planetary Pathology và quyển tiêu biểu The Astrological Body Types. Bà từng là Giám đốc Giáo dục cho Hội đồng Nghiên cứu Địa hình Quốc gia San Francisco, thành công trong việc ghép năm bản đồ sao với năm hồ sơ tương ứng trong thử thách của phía hoài nghi vào năm 1989.

Bà làm việc mười năm trong lĩnh vực nghiên cứu thống kê chiêm tinh học, nhận được trợ cấp nghiên cứu không yêu cầu từ nhà vật lý Arthur Young; và đưa ra hai bản trích lục nghiên cứu nổi tiếng: “The Mars-Redhead Files” cùng Jacalyn Thompson và “Astro-Seismology” cùng M. Polit. Là một nhà tiên phong trong chiêm tinh-địa chấn học và chiêm tinh-di truyền học, bà đã thành lập Dự án Nghiên cứu về Mars-Redhead, Stellium Press và “Ngày Nghiên cứu của Hội đồng Nghiên cứu Địa hình Quốc gia” đầu tiên của San Francisco. Với tư cách là một chiêm tinh gia y học và nhà thảo dược được đào tạo toàn diện và đủ tư cách hành nghề, bà lập ra Hội nghị Thường niên về Bí mật Bị mất của Y học Trung cổ tại Portland.

Website của bà là https://www.judithhillastrology.com.

__

Dịch từ Judith Hill, The Astrology of Depression (đăng tải lần đầu tiên tại http://www.skyscript.co.uk với sự biên tập của Paul Kiernan) dưới sự cho phép của tác giả.

Copyright © by Judith Hill | Bản dịch © Saturn Cafe

Ảnh: Masahisa Fukase. Erimo Cape, từ bộ ảnh Solitude of Ravens, 1976.

Write a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *