Chiêm tinh y học: Họ đã làm điều đó như thế nào?

Phỏng vấn Graeme Tobyn | Interview with Graeme Tobyn by Garry Phillipson

Garry Phillipson: Công việc chiêm tinh của ông là gì? Ông có gặp khách hàng không, và nếu có thì tất cả họ đều đến để tư vấn sức khỏe, hay ông cũng đọc bản đồ sao cá nhân thông thường?

Graeme Tobyn: Công việc của tôi chủ yếu là liên quan đến khách hàng. Phần lớn là kiểm tra sức khỏe, có thể đi kèm với chiêm tinh hoặc không. Bản thân việc kiểm tra sức khỏe đã là một vấn đề lớn rồi… Rồi các khách hàng khác đến để đặt câu hỏi với bản đồ sao vấn thời (horaries), hoặc để đọc bản đồ sao ngày sinh, hoặc để kiểm tra vận hạn. Tôi hoàn toàn không dính đến chiêm tinh vĩ mô.

Có một vấn đề về chiêm tinh và y học. Đầu tiên, với tư cách là một nhà thảo dược, tôi là người điều trị theo liệu pháp thay thế¹ (‘bổ sung’ không thực sự là một tên gọi phù hợp; tôi đã làm ở Dịch vụ Sức khỏe Quốc gia như một nhà thảo dược học hoàn toàn trong hai năm rưỡi, nhưng ‘bổ sung’ không phải là một đề mục ổn thỏa).

Thế nên ta có những người bệnh chẳng đi đến đâu với bác sĩ đa khoa của họ, và họ muốn thử một thứ gì đó khác. Có rất nhiều cầu nối để họ đặt niềm tin vào ta như một người hành nghề y được đào tạo chuẩn mực, những vấn đề về tính bảo mật và tương tự như thế. Đó đã là một bước lớn với mọi người rồi. Khi nói đến chiêm tinh, người ta thường nghĩ tới các thứ kiểu cung Mặt trời, một số người tin nó, nhiều người thì nghĩ ‘mấy người này bị ngu à’ và không tin nó. Vậy nên để giới thiệu chiêm tinh – sẽ là một điều không tưởng với các đồng nghiệp của tôi, những chuyên gia điều trị theo liệu pháp thay thế mà tôi làm việc cùng, huống chi đến khách hàng!

Làm việc ở các hạt ngoại ô Anh quốc, như tôi đang làm, sẽ có những bệnh nhân nặng cách nhìn tôn giáo, và nghĩ ‘cái thứ này thật là ma quỷ’ hoặc bất cứ điều gì. Tôi có thể kể ra một bệnh nhân đã từng đến gặp mình. Tôi biết bác sĩ của cô ấy có cái nhìn rất bảo thủ về liệu pháp thay thế, nhưng dù sao cô ấy vẫn tới gặp tôi. Cuối buổi tôi hỏi rằng mình có thể lấy bản đồ sao của cô ấy hay không. Cô ấy vung tay lên không trung và nói, ‘Tôi biết thể nào cũng xảy ra việc này nếu đến gặp bác sĩ thay thế mà!’. Không cần phải nói, tôi không thấy cô ấy thêm lần nào nữa, nhưng nó đã được chỉ ra rất rõ trong bản đồ sao chẩn bệnh (bản đồ sao cho buổi tư vấn hôm đó). Tôi nghĩ chủ tinh của cung mọc đang tiến gần đến sao Thiên Vương ở nhà 9, một điều không hề ngạc nhiên.

Vậy ông làm việc như thế nào, bất kể có cho họ biết là ông sử dụng chiêm tinh hay không?

Tôi đã loay hoay với vấn đề này trong một thời gian. Theo lịch sử, bản đồ sao chẩn bệnh là bản đồ sao được lập vào lúc bệnh nhân lần đầu được đưa lên giường bệnh khi đã nhận thức về bệnh tình của mình; đó là ý nghĩa gốc rễ của từ này. Nhưng theo truyền thống, bản đồ sao chẩn bệnh cũng được lập vào thời gian mà bệnh nhân đặt câu hỏi đầu tiên cho chiêm tinh gia – nên gần như tất cả bản đồ sao chẩn bệnh của tôi, 99%, là thời gian hoặc của lần tư vấn đầu tiên, hoặc của cuộc gọi đầu tiên để hẹn lịch. Và bạn có thể lập bản đồ sao mà bệnh nhân không hề hay biết.

Vậy là bạn đã có bản đồ sao chẩn bệnh. Nhưng tiếp tục cố gắng để có bản đồ sao ngày sinh (bản đồ sao gốc) (và như Culpeper² nói, ‘Nếu bạn có cả bản đồ sao gốc thì hẳn bạn sẽ không thất bại…’ – một lý do tốt để lấy bản đồ sao gốc) thì bắt đầu khó rồi đây. Bạn có thể giả vờ hỏi họ sinh ở đâu trong tình huống này kia, nhưng hỏi thời gian sinh thì chính là rút dây động rừng.

Tôi tin rằng mình phải có được yêu cầu lập bản đồ sao cho một bệnh nhân. Họ phải thể hiện mong muốn tích cực với chiều hướng này. Tất nhiên, nó cũng ứng với các việc khác nữa – tỷ như vẽ bản đồ sao chẳng hạn – vậy nên thực sự thì nó mở ra một thang phí khác. Nhưng rất khó để lấy một người từng này trong khi người kia lại từng khác trong cùng một công việc chữa trị – nó không dễ chịu với cả hai. Vậy nên trước đây những gì tôi làm là xem vấn đề này như một khía cạnh thuộc nghiên cứu của cá nhân. Có hai loại trường hợp mà trong đó, tôi sẽ đặt vấn đề với bệnh nhân rằng tôi muốn sử dụng chiêm tinh để giúp mình điều trị tình trạng của họ: đầu tiên là với những bệnh nhân mà tôi nghĩ họ sẽ cởi mở với nó; thứ hai là những người mà tình trạng của họ không có phương pháp chữa trị chính thống rõ ràng, cũng không có phương pháp chữa trị thay thế rõ ràng từ góc nhìn của tôi. Nó cho mọi người lý do về mặt chữa trị, rằng tại sao tôi lại muốn sử dụng chiêm tinh.

Đa số trường hợp thì phản hồi rất tích cực. Nhưng tôi làm vậy miễn phí, như vẫn thế. Giờ tôi nhận bệnh nhân từ những nguồn khác – thông qua thế giới chiêm tinh – nơi mà chiêm tinh là một trong các lý do đưa họ đến; nó hoàn toàn rõ ràng, vậy nên không có gì lấn cấn, không còn gì mâu thuẫn nữa. Đó là mục đích vì sao họ đến, tôi cần dữ kiện đó, họ đưa nó cho tôi, và được tính tiền hợp lý.

Nhưng đó là chỉ khi tôi không dùng chiêm tinh với tất cả bệnh nhân. Việc đó gây ra một vấn đề khác – hàng tấn công việc luôn! Tôi chắc Paracelsus³ là người đã nói về việc tại sao bạn không thể nhận quá nhiều bệnh nhân, bởi nếu vậy bạn sẽ không thể điều trị tốt cho bất cứ ai trong số họ, nên bạn sẽ không muốn có quá nhiều bệnh nhân khi bạn không thể điều trị cho bất kì người nào bằng sự chuyên tâm thỏa đáng với ca của họ. Vậy nên phần chiêm tinh cũng phải được giới hạn trong phạm vi nhất định là vì thế.

Tôi tin rằng có trường hợp, một người có thể phát bệnh vì thứ gì đó không ổn từ sâu bên trong – trong trường hợp này, có thể xử lý triệu chứng tức thời nhưng không thật sự có thể xác định được lý do gây bệnh. Trong chừng mực nào ông thấy nó là nhiệm vụ của mình để đào sâu và tìm ra lý do tại sao người đó lại mắc bệnh?

Tôi phải nói rằng điều trị triệu chứng thường là đặc trưng của y học truyền thống, nếu bệnh nhân đến gặp một bác sĩ thay thế thì họ đã xác định đó không phải là điều họ muốn. Hơn nữa, đặc biệt là thuốc ngày nay – tôi đang nói tới những loại thuốc được làm ra trong ba mươi năm qua – được đo ni đóng giày để can thiệp vào cơ chế sinh lý của cơ thể. Những loại thuốc đặc-chế, do đó đương nhiên, có thể kết thúc triệu chứng. Thảo dược không thực sự làm thế, vì nó không đủ đặc tính hóa học để làm như vậy.

Hiện nay, những loại thuốc đặc chế này được dùng với liều lượng chính xác để các mô đang chịu áp lực có thể hoàn thành công việc. Nhưng ý tưởng ‘tiếp tục uống thuốc’ là khởi đầu của một con dốc rất đứng.

Vậy, ý đầu tiên là: người ta đang tìm kiếm một thứ gì đó khác. Thứ hai là, chương trình đào tạo về thảo dược của tôi cố gắng điều trị nguyên nhân thay vì triệu chứng. Tuy nhiên, những điều này sẽ được diễn đạt với phong cách trị liệu thiên nhiên của thế kỷ mười chín – chúng ta có thải độc cơ thể, thanh lọc lá gan, hỗ trợ thận, hỗ trợ những cách thức mà qua đó cơ thể tự chấn chỉnh nó bằng các kênh đào thải. Nếu những kênh đào thải ấy bị chặn, chúng cần được khơi thông. Bằng cách này, bạn có thể hy vọng loại bỏ triệu chứng – vì chúng sẽ biến mất khi bạn chữa trị nguyên nhân.

Ví dụ như năm ngoái có một bệnh nhân đến gặp tôi. Cô ấy bắt đầu buổi chữa trị bằng câu, ‘Một người bạn của tôi đã đi gặp một nhà thảo dược, sau đó cô ấy khỏi bệnh. Đó chính là điều tôi muốn’. Cô ấy phàn nàn rằng lúc nào cũng cảm thấy phù nề; cô ấy đau nhức khắp mình mẩy; có những cơn đau đầu và kỳ kinh nguyệt vô cùng khổ sở. Cô ấy từng được cho dùng steroid đường uống⁴ cho những cơn đau đầu – giờ tôi vẫn không biết bệnh nhân nào khác từng được cho dùng steroid đường uống vì đau đầu. Rõ ràng các bác sĩ nhìn nhận rằng cơn đau đầu là kết quả của quá trình viêm. Cô ấy từng được cho gặp chuyên gia thấp khớp vì những cơn đau khắp người và khớp này, và cô ấy đã dùng brufen⁵ quá liều vì những cơn đau khi đến kỳ. Bác sĩ điều trị cho cô ấy đã thuyết phục cô ấy ngừng thuốc một cách đúng đắn.

Xét bệnh án, tôi chẩn đoán rằng cô ấy dị ứng với gluten⁶ – thường thì nghĩa là lúa mì, các dạng lúa mì hiện đại⁷. Bởi vậy tôi kê cho cô ấy thực đơn không-gluten, tìm cách giới thiệu yến mạch và lúa mì đen vào tháng thứ hai (bởi vì, như tôi đã nói, nó thường là lúa mì) và tôi bắt cô ấy ngừng sữa bò cũng như các sản phẩm liên quan (cô ấy có thể dùng sữa dê và cừu) – nên cô ấy không ăn kiêng sữa triệt để mà chỉ tránh sữa bò thôi.

Sau bốn ngày, các cơn đau đầu biến mất, những cơn nhức khắp người biến mất, phù nề biến mất. Cơn đau kỳ kinh nguyệt giảm bớt, nhưng vẫn còn. Đây là một ví dụ về việc chữa trị nguyên nhân. Không dung nạp thực phẩm là điều kinh điển mà các bác sĩ không hứng thú. Nếu họ nghi ngờ có phản ứng dị ứng, thì bạn được kê thuốc kháng histamine⁸. Nhưng họ thậm chí còn chẳng nghi ngờ điều đó ở đây.

Ông làm thế nào để xác định được dị ứng cụ thể như thế?

Có những triệu chứng nhất định mà nếu không còn cách giải thích nào khác về mặt y học, thì được tính là liên quan đến dị ứng. Vậy nên tôi nhận ra những thứ như cân nặng không ổn định, sưng tấy ở bàn tay và chân xuất hiện rồi biến mất – đó là hai dấu hiệu của dị ứng trong trường hợp không có lý do hợp lý nào khác. Về bản thân gluten – cô ấy vô cùng yêu bánh mì. Đây được gọi là dị ứng ẩn.

Bạn hẳn phải biết hội chứng thích ứng⁹ của Selye, hầu hết những người không dung nạp thực phẩm thực ra lại không dung nạp được những loại thực phẩm họ ăn mỗi ngày. Chúng ta chính xác đang nói về lúa mì, sữa bò, và họ nhà khoai. Bạn có thể tưởng tượng khi tôi hỏi một bệnh nhân, ‘Cô ăn thứ gì mỗi ngày hoặc hầu như mỗi ngày?’ – những thứ đó sẽ xuất hiện. Điều đó có nghĩa là họ sẽ sang giai đoạn hai của hội chứng thích ứng. Trong lần tiếp xúc đầu tiên với thứ mà họ đã trở nên (hãy nói là đột nhiên) không dung nạp được, họ có phản ứng chớp nhoáng nhưng họ không liên hệ được chúng với nhau; họ không biết vấn đề nằm ở bánh mì. Vậy là cơ thể đi từ giai đoạn một của những phản ứng dữ dội ngắn ngủi, thứ mà mọi người đều nhận ra (À, tôi dị ứng với động vật có vỏ – mỗi lần ăn nó tôi đều nôn và đau đầu) sang giai đoạn hai. Ở giai đoạn hai, họ phải liên tục tiêu thụ thứ họ không dung nạp được, để duy trì trạng thái giai đoạn hai. Nếu không – nếu hơn ba ngày trôi qua mà không tiếp xúc với nó – thì lần tới khi họ tiếp xúc với nó, họ sẽ quay trở lại phản ứng ở giai đoạn một. Vậy nên họ giữ nguyên ở giai đoạn hai, và cơ thể điên cuồng tiết cortisone¹⁰ nội sinh để kiềm hãm phản ứng viêm.

Có phải cảm giác lúc đó là thèm muốn thứ mà người ấy dị ứng không?

Thường là vậy. Và người phụ nữ này ăn hàng ổ bánh mì, cô ấy yêu bánh mì. Đó là đầu mối của tôi, và tôi nói trúng phóc.

Đấy là một ví dụ về việc chữa trị nguyên nhân thay vì triệu chứng. Kê steroid để chữa đau đầu và brufen chữa cơn đau khi đến kì là nhìn vào triệu chứng; cũng giống như đến gặp chuyên gia thấp khớp – những gì họ nói về chuyên gia thấp khớp là những vị này giỏi chẩn bệnh nhưng thuốc của họ thì khủng khiếp. Họ hoàn toàn chỉ nhìn vào các phần riêng lẻ – ‘anh xem phần đó, tôi sẽ xem phần này’ – trong khi tôi cố gắng nhìn vào bức tranh toàn thể.

Đó là lý do thứ ba tại sao tôi cố gắng chữa trị nguyên nhân chứ không phải triệu chứng – vì tôi nhận mình là người hành nghề theo phương pháp tổng thể, vậy nên tôi nhìn vào bức tranh toàn thể. Không chỉ những triệu chứng ở cơ thể vật lý, mà cả các khó khăn trong cảm xúc cũng có thể là tác nhân; một khuynh hướng ở cấp độ tinh thần (bởi vì thường thì, người ta chỉ bị ốm về tinh thần thôi). Và đương nhiên cả trạng thái bệnh lý nữa.

Chiêm tinh giúp tôi kết nối các thế giới này với nhau, vì nó là phương tiện theo hình mẫu tổng quát, một góc nhìn vũ trụ về mọi thứ.

Để tôi nêu ra cho anh một ví dụ khác về khuynh hướng toàn thể, không dính dáng gì tới thảo mộc hay chiêm tinh! Một phụ nữ được bác sĩ của cô ấy chuyển sang cho tôi. Cô ấy là y tá quận với bệnh viêm mũi lâu năm. Tôi xem bệnh án và kiểm tra màng mũi của cô ấy, rồi kết luận rằng có quá nhiều nhiệt trong cơ thể. Khi sắp hết giờ tôi hỏi cô ấy về cảm giác tức giận (nó có thể tạo ra nhiệt vượt mức trong cơ thể, dưới ảnh hưởng của sao Hỏa). Cô ấy kể với tôi về việc từng luyện tập để trở thành bác sĩ đa khoa với tư cách y tá, song đã bị phớt lờ vì vài vấn đề thăng tiến trong phòng khám. Sau đó cô ấy bỏ công việc đó, nhưng cô ấy bảo với tôi, mỗi lần đi ngang qua cửa phòng khám, nỗi căm tức lại trào dâng trong lòng cô ấy. Nói đến đây, cô ấy òa khóc, mặt cô đỏ bừng, huyết áp tăng cao (tôi đo trước khi cô ấy rời phòng tư vấn). Tôi đã kê một hỗn hợp thảo mộc tính mát cho cô ấy và dần dần cô ấy đã khá lên, hoàn toàn không còn viêm mũi nữa, nhưng cá nhân tôi thì tin rằng chính sự giải phóng lòng căm tức qua việc thú nhận nó đã khiến cô ấy khá lên. Vậy nên, một người hành y tổng quát sẽ muốn tường tận mọi khía cạnh của bệnh nhân để tìm hiểu xem thực sự vấn đề ở đâu.

Khi một người tìm đến ông với một căn bệnh, làm thế nào để ông kết luận căn nguyên có nằm ở tâm lý hay không?

Một vấn đề gây ra bởi tâm lý có thể đúng, như trường hợp viêm mũi tôi vừa đề cập. Bước đầu tiên là loại bỏ khả năng bệnh nằm ở nội quan cơ thể. Một trong các lo lắng của nghề y về những người hành nghề thay thế là, nếu họ bỏ sót chứng bệnh nghiêm trọng và thất bại trong việc giúp đỡ bệnh nhân thì, họ đang không chỉ không giúp bệnh nhân (việc này có thể ổn nếu soi vào ánh sáng của châm ngôn Hipprocrates¹¹ rằng ‘ít nhất không gây hại’), mà còn không chuyển họ tới bác sĩ đa khoa của họ dù đã nhận thấy căn bệnh nghiêm trọng hơn, nằm ngoài khả năng xử lý của họ, thực ra họ đang trì hoãn việc điều trị mà bệnh nhân cần. Đây là một nỗi lo.

Vậy nên bước đầu tiên là loại bỏ các bệnh xuất phát từ cơ quan. Bạn có thể làm việc này đến đâu thông qua kiểm tra khi điều trị – không viện tới kiểm tra máu, X quang, chụp scan, vân vân, là một vấn đề. Việc các bác sĩ đa khoa ngày nay làm là họ sẽ đợi kết quả thử máu, scan hay cái khỉ gì đó – và cảm thấy họ không thể chữa bệnh nếu không có chứng cứ ‘khách quan’ (trích dẫn) kia. Cả kiểm tra bằng tay cũng bị quy là chủ quan ở một khía cạnh nào đó. (Theo truyền thống, bàn tay được xem là bộ phận hội tụ mọi thứ với sự cân bằng hoàn hảo – công cụ tốt nhất để phán đoán liệu có mất cân bằng giữa nóng và lạnh, khô và ẩm không). Nhưng [giờ người ta cho rằng] cần phải có những bằng chứng ‘khách quan’ này từ công nghệ.

Vậy nên các bác sĩ điều trị trong quá khứ – và bạn không phải đi xa đến thế để tìm một bối cảnh điều trị ít sử dụng công nghệ hơn hẳn – dành rất nhiều thời gian tập trung vào triệu chứng lâm sàng và kiểm tra. Vậy nên tôi nghĩ rất nhiều thứ đã được thực hiện.

Ví dụ. Một bệnh nhân đang nhờ tôi tư vấn ở thời điểm hiện tại, anh ấy đau và sưng ở phần bụng trên – gần như là dạ dày – mọi lúc. Anh ta đã bị vậy trong khoảng mười hai năm. Vậy nên tôi tiến hành kiểm tra bụng – và nó có hơi rắc rối ở chỗ, các cơ ở bụng anh ta hơi căng cứng, chúng phải dễ chịu và thả lỏng thì bạn mới có thể sờ được và qua đó xem có chỗ nào sưng hay mềm không. Bằng cách này, tôi hy vọng loại bỏ được các bệnh do cơ quan, như khối u. Và tôi thấy mình phải làm rõ việc này, để nói với bản thân, ‘Thế đấy, mình không tìm thấy dấu hiệu khách quan nào của bệnh từ cơ quan cả’.

Xem xét các biểu hiện, và bệnh án, tôi nghĩ là do vấn đề tâm lý. Tôi lấy bản đồ sao cá nhân của anh ta, và một bản đồ sao chẩn bệnh. Cũng có trường hợp bản đồ này có tác dụng hơn bản đồ kia, hay bản đồ này có ý nghĩa hơn hẳn trong trường hợp này, còn bản đồ kia thì có vẻ không như vậy. Hoặc đôi khi cả hai đều hữu dụng, và có khi giữa chúng còn có liên kết. Trong trường hợp này, bản đồ sao gốc giúp tôi sáng tỏ mọi thứ.

Tôi cảm thấy vấn đề của anh ấy là do tâm lý, và được thể hiện rất rõ trong bản đồ sao gốc qua góc vuông giữa sao Thủy ở Bạch Dương và sao Mộc ở Cự Giải. Hai hành tinh này cũng đồng thời cai quản nhà 4 và 10, và anh ta thấy nguồn gốc vấn đề này nằm ở việc bố mẹ li dị khi anh ta khoảng hai tuổi. Hoàn toàn phù hợp; chủ tinh của nhà 4 và 10 tạo với nhau góc hợp căng thẳng biểu trưng cho việc bố mẹ không hòa hợp; thứ hai, sao Thủy phụ trách tâm trí, sao Mộc theo truyền thống cai quản phẩm hạnh tự nhiên (liên quan tới tiêu hóa và sinh sản; vậy nên ở đây, dính dáng rất nhiều tới tiêu hóa – sao Mộc đương nhiên quản lý gan, cơ quan chủ chốt ở đây).

Dĩ nhiên là có các lý do khác nữa, nhưng tất cả đều quy về sao Thủy vuông góc sao Mộc – thứ dễ dàng khiến người ta liên tưởng đến các vấn đề tâm lý, như mọi người có thể tưởng tượng.

(Khi tôi cho một nhóm học sinh xem bản đồ sao này, thực ra, một trong số ấy đã nói, ‘Nhưng ở đó có Kim vuông góc Diêm Vương, sao Kim là chủ quản nhà 6 về bệnh tật…’ – và đúng thế thật. Về mặt biểu tượng thì không khớp, nhưng nếu bạn hiểu nó theo cách máy móc rằng bệnh tật phải được thể hiện qua nhà 6 – thì vấn đề nằm ở sao Kim vuông góc với Diêm Vương. Nhưng tôi có thể chứng minh cho học sinh đó rằng vấn đề nằm ở sao Thủy vuông góc sao Mộc, vì anh ta [bệnh nhân] biết rõ cái tháng mà mình bắt đầu thấy bệnh, và trong tháng đó, sao Mộc ở bản đồ sao tiến trình [progressed] đang vuông góc chính xác với sao Thủy. Rồi có cả góc trùng tụ giữa sao Thủy-sao Mộc trong quá cảnh trên bầu trời vào tháng ấy nữa, vậy nên đây chính là bằng chứng xác đáng).

Vậy là tôi bắt đầu chữa trị cho anh ta bằng các thảo mộc thuộc sao Mộc và sao Thủy. Ấy là cách tôi trông cậy để quyết định đâu là do tâm lý, đâu là do cơ quan. ‘Bệnh do tâm lý’ có một ý nghĩa y học đặc biệt – rằng nó xuất phát từ tâm trí – nhưng đương nhiên thực ra nó ám chỉ đời sống cảm xúc hoặc tinh thần. Và đó là nơi những mức độ trên len lỏi vào. Trong trường hợp này, chính là sự tan vỡ trong mối quan hệ của bố mẹ khi anh ta còn rất nhỏ và những vấn đề xảy ra sau đó.

Ông đang đưa ra các ví dụ rành mạch rằng chiêm tinh mang đến tác dụng tốt. Đã có ai từng tiến hành nghiên cứu công việc của các chiêm tinh gia y học từ góc độ đánh giá xem chiêm tinh có tác dụng hay không chưa?

Để xem nào, có Encyclopedia of Medical Astrology (Bách khoa tự điển về Chiêm tinh Y học) của Cornell, tôi nghĩ là được xuất bản vào khoảng những năm 20. Nó có một vài đóng góp hoặc sự đồng thuận của một bác sĩ trị liệu. Nhưng chỉ là tôi không tin! Anh biết đấy, tất cả những thứ này đến từ đâu chứ? Để có một bách khoa tự điển khổng lồ đầy tham khảo thế này – tôi không biết rõ về nguồn gốc của nó cũng như không quan sát nó đủ nhiều; nhưng tôi ngờ rằng nó chỉ xuất phát từ một người hành nghề. Việc này gây ra đủ thứ vấn đề.

Anh thấy đó, tôi không tin rằng mình tách biệt chút nào với thứ chiêm tinh này. Tôi không những cần ủy thác từ bệnh nhân để thực sự tiến hành công việc chiêm tinh ngay bước đầu tiên; tôi còn không thể nhận tất cả các bệnh nhân mà tôi không sử dụng chiêm tinh trong quá trình chữa trị, trừ những người tôi có bệnh án, thăm khám chuyên sâu, cả một quá trình chữa trị và những gì xảy ra sau rốt. Tôi không nghĩ rằng mình có thể lấy một bản đồ sao để làm bản đồ sao chẩn bệnh, có thể là bản đồ sao lấy lúc giữa trưa với ngày sinh của họ, và rồi ngoái đầu lại nghiền ngẫm – vì tôi không được ủy thác cho việc đó.

Vậy nên thực ra, tôi không tin vào thứ chiêm tinh khách quan. Trên hết, khách hàng phải mong muốn sử dụng chiêm tinh. Và, nếu nó được sử dụng, người sử dụng nó phải là tôi – tôi cũng tham gia vào quá trình này nhiều như chính bệnh nhân. Một điều khá thú vị là trong lịch sử chiêm tinh y học, việc bạn tự lấy bản thân mình ra làm khung tham chiếu rất rõ ràng.

Ý của tôi khi nói bạn tự lấy bản thân ra làm khung tham chiếu cũng bởi vì chủ quản của nhà 7 chính là chiêm tinh gia/nhà thảo dược, bác sĩ điều trị. Bạn ở đó, và bạn phải cân nhắc xem mình có phải là người phù hợp nhất để đảm đương ca này không, hay bạn sẽ dễ tổn hại họ – và làm thế nào để tránh điều này, hay bạn nên đơn giản chuyển họ cho người khác. Chính yếu tố này trong việc tiến hành chiêm tinh y học – đã định vị vai trò của người điều trị, cũng nhiều như bệnh nhân.

Vậy nên rất khó để nhìn nhận nó một cách khách quan, vì tất cả đều xoay quanh một chiêm tinh gia cụ thể vẽ bản đồ sao, thấy bản thân mình được phản ánh, và hành động trong sự ý thức về điều này. Chiêm tinh không hẳn là công cụ để tiếp cận thông tin, giống như lục lọi ghi chép về bệnh nhân từ một chiếc máy tính vài tháng sau đó, chiêm tinh là những gì khởi lên trong khoảnh khắc. Để khoảnh khắc này vụt qua và cơ hội làm người đầu tiên chộp lấy vấn đề trong khoảnh khắc ấy cũng trôi qua. Bạn không thể trị liệu theo kiểu hồi tưởng lại.

Bernadette Brady đã kể rằng cô ấy đang là một nhà vi sinh vật học vào lần đầu tiên khám phá chiêm tinh học. Cô ấy nói mình đã nổi điên với chiêm tinh khi bắt đầu nhận thấy nó có vẻ đúng – cô ấy mong sao càng nhiều chiêm tinh gia trải nghiệm được cảm giác này càng tốt, rồi có lẽ họ sẽ hiểu được sự tức giận mà cộng đồng khoa học hướng về chiêm tinh. Nếu nó đúng, thì đương nhiên, thế giới quan của họ, thậm chí cả công việc suốt đời của họ, sẽ sụt lở. 

Đúng thế. Richard Dawkins lãnh đạo nhóm ấy nhằm kết nối khoa học với công chúng phổ thông. Ông ta làm những việc của mình để chống lại ‘Hồ sơ-X’ và các thứ chủ nghĩa thần bí như chiêm tinh, nói rằng hiểu biết duy lý của mọi người đang bị bào mòn bởi những thứ này. Đúng, nó quả là mối đe dọa lớn. Nhưng ông ta viết những quyển sách sặc mùi thuyết định mệnh từ gen; và chúng ta cũng nên quan ngại về dòng thuốc sẽ ra mắt khi họ bảo, ‘Bạn chưa bệnh đâu – nhưng nếu bạn dùng loại thuốc này, nó sẽ can thiệp vào DNA của bạn và cứu bạn, không để các vấn đề di truyền trong gen bộc phát thành bệnh ở tuổi 40’. Nó đem lại hàng triệu đô cho ngành công nghiệp dược; bán thuốc cho những người khỏe mạnh!

Vấn đề với hàm lượng cholesterol cao là ví dụ điển hình. Hàm lượng cholesterol cao là nhân tố nguy hiểm gây ra các bệnh tim mạch, nhưng nó không phải nhân tố nguy hiểm duy nhất. Tự thân nó không nhất thiết gợi ra quá nhiều khúc mắc trừ phi nó cực kỳ cao (đây là cách hiểu của tôi). Nhưng những gì người ta làm là tung ra một loại thuốc, đặt ra một vài mức độ ‘bình thường’ cho cơ thể con người; một lần nữa, lại đối xử với cơ thể con người như một cái máy. Và rồi, ngạc nhiên chưa, khắp mọi nơi đều có cái máy kiểm tra nhỏ xinh của họ, đo mức độ cholesterol của bạn và phán xem bạn có cần uống thuốc không. Mà bạn còn chẳng bị bệnh!

Bài có thể cùng chủ đề:  Giờ Sinh và Tử

Đúng là có tình trạng di truyền – máu nhiễm mỡ hay máu nhiều cholesterol – và đúng là sẽ có lịch sử bệnh tim trong các gia đình ấy. Nhưng đó chỉ là số nhỏ. Giờ đây chúng ta có cả một đất nước lo lắng về mức độ cholesterol của họ. Có một cách nhìn khác, một cách nhìn theo liệu pháp thiên nhiên, liên quan đến chế độ ăn uống. Tôi cho rằng thực đơn là yếu tố vô cùng quan trọng trong vấn đề này, vì bạn có vấn đề với acid béo chuyển hóa – việc này không tự nhiên xảy ra, mà bị gây ra bởi quá trình hydro hóa chất béo thực vật. Vậy nên nếu tình trạng này phổ biến hơn, thì đó có thể là vấn đề của công nghệ thực phẩm và lối sống hiện đại.

Khi chiêm tinh tương tác với y học, nó chỉ có thể làm vậy thông qua cách tiếp cận thay thế thôi ư? Chiêm tinh có thể giải nghĩa những thứ như Viagra hay hóa trị liệu không?

Tôi nhìn nhận sao Diêm Vương là biểu tượng cho thuốc kháng sinh, máy điều hòa nhịp tim và thuốc tránh thai. Nhưng đây vẫn là từ góc nhìn ‘thay thế’, khi bạn đang gặp một bệnh nhân mà bác sĩ đã bảo ‘Bạn cần kỳ thuốc kháng sinh bốn-tháng cho mụn trứng cá này’ và Mặt Trăng chuẩn bị tạo góc 150 độ với sao Diêm Vương.

Nhưng không, tôi không thấy ý nghĩa gì, vì mô hình trị liệu hiện đại nhìn nhận cơ thể con người như một cái máy, nên các bộ phận có thể đổi được cho nhau: ‘Máy của bạn giống máy của tôi; bộ phận này trong máy của bạn hỏng rồi, chúng ta có thể lấy nó ra và cho phần khác vào’ – điều đó quá giản lược. Chiêm tinh không đơn giản hóa theo kiểu này. Tôi từ chối mọi cách hiểu chiêm tinh sơ sài hóa như thế.

Vậy nên câu trả lời của tôi là không. Nhưng nói đi cũng phải nói lại, một bác sĩ có khá nhiều thẩm quyền điều trị để làm thế này hay thế kia khi bệnh nhân của họ đồng ý. Vậy nên không phải là kỳ lạ nếu một bác sĩ sử dụng thuốc bình thường song vẫn lấy bản đồ sao như một vấn đề riêng biệt, cũng tương tự nếu họ sử dụng phương pháp trị liệu bằng niềm tin tôn giáo.

Ông có biết một bác sĩ đa khoa nào sử dụng chiêm tinh không?

Tôi có nghe về một người, nhưng tôi nghĩ rằng cô ấy cũng là một nhà trị liệu theo phương pháp vi lượng đồng căn. Dù có hẳn một khoa gồm các nhà trị liệu vi lượng đồng căn mà chỉ những bác sĩ điều trị được đảm bảo mới được vào, cô ấy vẫn dùng bước đấy để đến một mục đích rất khác. Vậy nên thực sự thì, tôi không biết ai cả.

Chưa kể đến một vài bác sĩ có thể không hứng thú với nó. Nhưng quan tâm tới cách người khác tiếp cận tình huống (đặc biệt là khi họ đang gặt hái kết quả tốt) là một chuyện, tự mình làm việc đó và bị nhìn thấy khi đang làm việc đó lại là một chuyện khác.

Ông cho rằng chiêm tinh y học ngày nay có thể phục hồi sức khoẻ trong mức nào? Nó có thiếu hụt lớn nào không – và nếu thế thì có ghi chép cổ nào bị mất hay cần được dịch không, hay chúng ta cần tiến hành nhiều nghiên cứu hơn vào lúc này?

Có rất ít người làm việc giống như tôi đang làm – tôi đang nói tới các nhà thảo dược; các chuyên gia vi lượng đồng căn có lẽ thuộc một phạm vi khác, vì một người như Culpeper không sử dụng phương pháp trị liệu vi lượng đồng căn – ông ấy trị liệu bằng thảo mộc. Vậy nên bạn có thể thấy tại sao chiêm tinh lại hấp dẫn đối với các nhà thảo dược, nhưng không hề hấn gì với các nhà vi lượng đồng căn. Cũng có những chuyên gia vi lượng đồng căn ngoài kia sử dụng chiêm tinh, và họ có những kết luận cho riêng họ.

Tôi muốn chia sẻ kinh nghiệm cũng như cách tiếp cận lâm sàng tới việc điều trị với một người hành nghề như thế vài tháng một lần; chúng tôi muốn nhìn xem đối phương thực hiện công việc như thế nào. Tôi còn có một người bạn Đức sử dụng lý thuyết nhịp Munich của Dobereiner¹². Người Đức rất có tiếng trong lĩnh vực vi lượng đồng căn và chiêm tinh. Ebertin là gương mặt phải kể đến. Tôi cho rằng khi đó chiêm tinh được phủ một lớp tâm lý học của Jung. Họ đang muốn tìm kiếm (ví dụ như là) các phương pháp trị liệu cho các một tổ hợp hành tinh cụ thể..

Tôi nghĩ rằng chiêm tinh và vi lượng đồng căn hẳn phải phát triển mạnh hơn chiêm tinh và y học thảo dược. Nhưng nếu bạn không có kiến thức y chuyên ngành, thì chiêm tinh y học sẽ rất đáng sợ. Tôi nghĩ đây là điều kiện cần. Bởi lẽ bạn phải đủ khả năng cáng đáng những câu nói này của bệnh nhân, ‘Ừm, tôi đau như thế này, tôi đang trong trạng thái tồi tệ, ông có thể làm gì với nó không?’

Một chiêm tinh gia thuần sẽ cảm thấy bất lực trong tình huống này. Đó là lý do tại sao chiêm tinh y học không được điểm chỉ trong phạm vi phổ thông của việc đọc bản đồ gốc. Nó thực sự yêu cầu đôi chút kiến thức y học để sử dụng chiêm tinh trong quá trình chữa bệnh.

Nhưng tôi muốn vạch ra một ranh giới rõ ràng giữa chiêm tinh về chữa bệnh với chiêm tinh về sức khỏe. Chiêm tinh về sức khỏe ở đó để các chiêm tinh gia thuần nghiên cứu. Giờ đây tôi sẽ giải thích ý tứ của mình về cụm ‘chiêm tinh về sức khỏe’ (tôi đã phác thảo nó trong cuốn sách của tôi, ‘Culpeper’s Medicine’ [Việc bốc thuốc của Culpeper]).

Chiêm tinh sức khỏe được dựa trên bản đồ sao gốc – từ đó bạn rút ra tính khí của một người. Culpeper nói rằng bạn cần bản đồ sao gốc, vì họ có thể đã từng sống ở một đới khí hậu khác, hay họ có lẽ từng bị bệnh trong đời, hoặc họ có lẽ vừa già đi, và nó thay đổi tính khí nền của họ. Bản đồ sao gốc sẽ chỉ ra điều đó; đây là điểm khởi đầu của bạn.

Một khi bạn đã xác định được tính khí của người đó (và thường thì là hỗn hợp của hai, chứ không đơn thuần chỉ một) nó dẫn bạn thẳng đến thứ được gọi là (theo truyền thống y học phương Tây) “sáu điều bất-tự-nhiên”. Đó là những thứ không tự có một cách bẩm sinh trong cơ thể, mà được cơ thể yêu cầu. Là những thứ trong thực tế không thể tránh khỏi, và chúng phải được điều chỉnh thích hợp để cơ thể duy trì trạng thái khỏe mạnh.

Đầu tiên chính là không khí mà bạn hít thở; trong thời đại của chúng ta nó thường là không khí bị ô nhiễm, một điều rất quan trọng. Nhưng nó cũng có thể là sự khác biệt giữa việc sống ở lưng núi hay sống trong thung lũng; sống cạnh biển hay sống ở khu vực đất liền bao quanh.

Thứ hai là chế độ ăn uống – thức ăn và thức uống. Thứ ba là sự cân bằng giữa luyện tập (hoạt động) và nghỉ ngơi. Sáng nay tôi đang nghe đài; có một phụ nữ nào đó đang chạy đường trường, hoàn toàn khỏe mạnh, và cô ấy đột tử. Họ nói, ‘Chúng ta cần thêm máy khử rung tim’. Bạn tưởng tượng mọi người đang chạy những cung đường trường này – vô cùng lành mạnh – nhưng cuối cùng lại vẫn cần máy khử rung tim. Bạn nghĩ, ‘Chuyện quái gì đang diễn ra ở đấy vậy?’ Chính là do suy nghĩ ‘có khổ luyện mới thành tài’. Đó là quan điểm cũ. Nếu tập luyện làm bạn đau đớn, bạn đang tự làm hại bản thân mình. Về khía cạnh nghỉ ngơi – bạn nói chuyện với ai đó và rồi họ đi làm, về nhà, nấu ăn, ngâm nga xung quanh, đan len, họ không thực sự xem TV vì họ không thể ngồi yên đủ lâu. Trạng thái không hoạt động của họ không thực sự có lợi, họ nên tham gia những thứ như yoga.

Thứ tư là ngủ và thức – mất ngủ, một vấn đề lớn. Thứ năm là bài tiết của cơ thể. Các nhà thảo dược rất giỏi về mặt này, họ luôn hỏi bệnh nhân về tình trạng thường xảy ra của đường ruột. Người Anh được coi là vô cùng tệ khi nói đến vấn đề này, và đó là lý do vì sao rất nhiều ca ung thư ruột già trở nên bất trị. Các nhà thảo dược luôn hỏi về các chức năng cơ quan, vì đây là một phần trong hướng đi của họ.

Thứ sáu là cảm xúc. Xúc cảm mãnh liệt trong tâm trí gửi tín hiệu đến trái tim (đây là cách hiểu cũ) và khi nhịp tim bất ổn bởi các tình cảm này, toàn bộ cơ thể trở nên mệt mỏi. Vậy nên cảm xúc mà một người đang trải qua – u sầu, tức giận, áp lực, giận dữ trong thời gian dài – những thứ này đều có thể làm cơ thể rối loạn.

Đó là sáu điều bất-tự-nhiên. Bạn có thể nhờ tới một chiêm tinh gia thuần – không phải một người hành nghề y – nhưng phải có kiến thức về năng lượng trong thực phẩm. Chúng ta biết tỏi, và hành tây, cực kì nóng. Chúng ta biết rau diếp và bắp cải cực kì lạnh; đó là lý do, nhóm thức ăn này, ta ăn chúng vào mùa hè. Chúng ta biết trà đặc vị cực kì sắc, tạo nên các nếp nhăn trên môi (nghĩ xem nó ảnh hưởng đến thận như thế nào…).

Bạn thấy đấy, không cần phải đi đâu xa để hiểu được một người thuộc tính khí cụ thể cần những gì. Vì tính khí nói cách khác chính là sự mất cân bằng giữa các dịch thể, hay các nguyên tố. Không-ai luôn trong trạng thái cân bằng hoàn hảo – nó đồng nghĩa với việc đạt đến trường sinh! Vậy nên tất cả mọi người đều hơi mất cân bằng một chút, nhưng vẫn trong phạm vi khỏe mạnh. Đây chính là thứ mà người Hy Lạp gọi là Eukrasia, ‘tỷ lệ pha trộn tốt’. Mục đích của sáu điều bất-tự-nhiên là cải thiện sức khỏe tốt hơn mức bạn đang có. Một chiêm tinh gia có thể làm việc này bằng cách nhìn vào sáu điều bất-tự-nhiên, và nó sẽ chuyển nhánh chiêm tinh sức khỏe về phạm vi suy xét bản đồ sao gốc. Đó là vị trí mà chiêm tinh y học nên sải rộng bước chân đầu tiên trên con đường khôi phục vị thế của mình; nhưng bệnh tật dọa con người chết điếng, và bạn thực sự phải có kiến thức y chuyên ngành để đương đầu với nó.

Ông có quan tâm đến việc ước lượng sự cân bằng trong tính khí của một người và đưa ra lời khuyên cho họ, như kiểu, họ nên ngủ nhiều hơn (hay ít đi) không?

Có đấy. Tôi có một ca như thế một tuần trước – một nhà báo đang viết bài cho một tạp chí sức khỏe và thể hình sắp xuất bản, gọi cho tôi. Cô ấy muốn so sánh giữa bác sĩ đa khoa, nhà xoa bóp huyệt đạo, và chiêm tinh gia trị liệu, xem họ có thể nói với cô ấy điều gì (về tất cả mọi thứ). Tôi rơi vào tình thế bất lợi so với những người khác, vì tôi không được thấy cô ấy trực tiếp; chúng tôi phải làm việc với nhau qua điện thoại. Tôi buộc phải bảo cô ấy làm rõ rằng đây hoàn toàn không phải công việc thường ngày của tôi.

Vị bác sĩ đa khoa bảo rằng cô ấy [nhà báo] bị suy nhược. Tôi không biết nhà xoa bóp huyệt đạo thì nói gì. Tôi có bản đồ sao gốc của cô ấy, lập cả bản đồ sao vào thời điểm cô ấy hỏi tôi – thứ mà lúc đầu trông không khả quan lắm, nhưng cuối cùng tôi lại quyết định sẽ lợi hơn cho mình nếu nương theo bản đồ sao thứ hai. Sự thay đổi góc nhìn này thực ra phụ thuộc vào việc tôi xác định mình nằm trong nhà 7 – không phải như chủ quản sao Thổ, mà như đồng chủ quản là sao Thiên Vương, hành tinh rất phù hợp với chiêm tinh.

Tôi vẽ bản đồ sao gốc, đánh giá tính khí, và phân tích sáu điều bất-tự-nhiên của tôi. Tôi còn muốn gợi ý một số thảo mộc cô ấy có thể dùng. Cuối cùng tôi kết luận cô ấy có vấn đề với giấc ngủ, vì cô ấy thiên về tính khí nóng nảy/sầu muộn. Cả hai đều mang tính khô, nên tôi nghĩ rằng một trong các vấn đề sẽ nằm ở đặc tính khô này. Vậy nên, lời khuyên về thực đơn sẽ là ăn các thực phẩm mang tính mát. Tôi không muốn cô ấy luyện tập liên tùng tục. Tôi nghĩ giấc ngủ là một vấn đề, nên tôi ghi lại: cúc Chamomile (và trà Chamomile là bước đầu tiên trên con đường tự-chữa cho những người gặp vấn đề với giấc ngủ; một chén trà Chamomile trước khi lên giường).

Cô ấy có cung mọc Sư Tử, cai quản bởi Mặt trời, nên ta luôn muốn gia cố thêm cho chủ quản của cung mọc – nhất là khi điểm mọc là điểm nóc của nhà về cuộc sống và sức khỏe. Vậy nên Chamomile là phương pháp trị liệu chủ đạo cho cô ấy. Và vì, như Culpeper nói, nó thanh lọc nhiệt (và cô ấy trước hết là đặc biệt nóng nảy) hướng đi này rất lý tưởng.

Hai loại khác chính xác là các thảo mộc trị liệu bạn sẽ dùng để điều trị chứng mất ngủ: hoa bia (loại này, tuy là một thảo dược tương ứng với sao Hỏa, nhưng lại loại bỏ nhiệt khỏi cơ thể, đây chính là vi lượng đồng căn – để những thứ giống nhau chữa cho nhau) và thứ ba là một thảo dược tương ứng với Mặt Trăng, hoa anh túc California, mát và ẩm, nó loại bỏ tính khô, và được biết đến như loại thảo dược tốt cho giấc ngủ. Vậy nên tôi ghi chú lại những điều này. Cô ấy gọi điện xin tư vấn, và tôi nói thẳng luôn, ‘Xem nào – tình trạng cân bằng của cô đang thế này, da của cô có khô không?’. Có, da cô ấy khô, gia đình cô ấy có tiền sử bệnh chàm và cô ấy vẫn liên tục bị chàm lúc này hoặc lúc khác.

Bản đồ sao hậu thuẫn cho sự nghiệp nhà báo của cô ấy; Mặt trăng Bảo Bình, tạo góc 60 độ với Thủy-Kim ở nhà 10. Thế là cô ấy có năng khiếu viết lách, giọng văn chứa nét duyên dáng cuốn hút. Mặt trời Bạch Dương ngay nóc nhà 10 – cô ấy là kẻ tham vọng, như những gì bạn có thể kỳ vọng ở một kẻ nóng nảy muộn sầu; cả hai tính khí này đều tham vọng. Và thích làm việc một mình – Bạch Dương mà, đương nhiên.

Và đúng vậy, cô ấy quả là có vấn đề với giấc ngủ thật. Cô ấy làm việc liều mạng (Mặt trăng vuông góc sao Hỏa) và có một giai đoạn công việc không tốt lắm, hoặc là không đủ lượng công việc cho cô ấy… Cô ấy có Thổ ở nhà 10, vuông góc với cung mọc – đây là điểm nhận dạng chính của tính khí u sầu trong bản đồ sao của cô.

Và nó làm rõ mọi thứ. Tôi nói với cô ấy các loại thảo dược chữa mất ngủ, và cổ thấy tất cả ‘chính xác một cách vi diệu’ (từ ngữ của cổ). Tôi còn miêu tả ngoại hình của cô ấy nữa; với kiểu tính khí này ta hẳn nên hi vọng cô ấy không đẫy đà, mà thon gọn. Tôi nghĩ chiều cao của cô ấy vào tầm trung hoặc thấp – không cao. Chính ra thì, cô ấy cao tầm trung. Không liên quan gì đến tính khí, nhưng có nhiều hành tinh như thế ở nhà 10 và chủ quản nhà 5 không nổi trội, tôi không nghĩ cô ấy có con; cô ấy chưa có thật. Điển hình của phụ nữ phấn đấu vì sự nghiệp ở giai đoạn này.

Mọi thứ diễn ra tốt đẹp, và đó là thực hành chiêm tinh về sức khỏe – con đường tôi nghĩ các chiêm tinh gia có thể theo mà không đi sâu vào bệnh tật.

Nền tảng chiêm tinh của ông là gì, ông đã học nó như thế nào?

Lúc đó tôi đang ở năm cuối Đại học, học tiếng Nga. Bạn cùng kí túc xá cũng là người bạn trong suốt thời gian học Đại học của tôi (cô ấy là Nhân Mã, giống tôi) mang về nhà một trong những cuốn căn bản về Nhân Mã. Cô ấy đọc xong thì đưa tôi đọc. Tôi thấy nó rất thú vị, và thực sự thì những gì xảy ra trong vòng bốn đến năm năm sau đó là chúng tôi hẹn gặp nhau, có lẽ dành cả tuần với nhau, và nói về chiêm tinh. Cả hai đều học vẽ bản đồ sao từ sách của Derek và Julia Parker – tất cả đều rất cơ bản, nhưng thứ chúng tôi đang chăm chút chính là ngôn ngữ của biểu tượng.

Rồi tôi tham gia khóa học hai năm dành cho người lớn của Bernard Eccles ở Bắc London, và qua đó tôi biết đến Chòi Chiêm tinh London. Tôi mau chóng trở thành thành viên, đúng thời điểm Hội quán Chiêm tinh mới đang thành lập; tôi nghĩ Geoffrey Cornelius vẫn là Chủ quản của Chòi. Tôi bị hấp dẫn bởi những gì họ đang làm nên tôi bắt đầu học cùng Hội quán Chiêm tinh. Ngày nọ chính Maggie Hyde đã làm buổi chuyên đề về Culpeper – và nó đã hoàn toàn chiếm lĩnh đầu óc tôi. Tôi vẫn luôn bài xích y học hiện đại, vì tôi không thích kim khâu, không thích ý tưởng mổ xẻ cơ thể người ta ra và những thứ đại loại như vậy. Cái ý tưởng mà thay vì mổ xẻ, bạn có thể đưa người ta hoa (đúng là để uống thật, hoặc để làm cái gì cũng được) rất lôi cuốn.

Một người bạn khác của tôi đang tham gia một lớp, vào thời điểm đó, là lớp học duy nhất dành cho người lớn về điều trị thảo mộc; thế nên tôi bắt kịp lớp cuối cùng. Giáo viên là một phụ nữ người Hung, tôi vẫn nhớ cô ấy nói về lá húng quế (loại thảo dược nổi danh với điển tích buồn cười trong lịch sử ngành, và vẫn không xuất hiện trong rất nhiều sách thảo dược). Cô ấy nói, ‘Một thìa húng quế là đủ cho cả một đội quân’ – tôi vẫn nhớ rõ. Dù sao đi chăng nữa, trước khi kịp nhận ra thì tôi đã đăng ký khóa đào tạo làm nhà thảo dược.

Khá khác thường khi tiến vào điều trị thảo mộc thông qua chiêm tinh. Rất nhiều người trong giới y học thay thế hứng thú với chiêm tinh lại có quá trình ngược lại, nhất là với điều trị thảo mộc – họ quan tâm đến thảo mộc, vì họ thích nuôi dưỡng các thứ, rồi họ tình cờ bắt gặp Culpeper, và chiêm tinh, và nó là thuốc giải thích hợp cho các vấn đề khoa học mà họ đang phải học – hoặc họ chỉ đơn giản là bị nó thu hút. Nhưng tôi thì hoàn toàn ngược lại, đến với điều trị thảo mộc thông qua chiêm tinh.

Vậy là sau đó tôi cắm đầu học chiêm tinh, rồi bản thân dần dần trở thành giảng viên ở Hội quán Chiêm tinh. Nhưng việc nghiên cứu chiêm tinh ngày một phát triển. Nếu tôi học y thì không có nhiều thời gian học chiêm tinh. Vậy nên với tôi, nan đề luôn là cân bằng thời gian giữa hai việc này – vì đây chính là hai con thuyền mà tôi đeo đuổi. Dù sao tôi vẫn là Nhân Mã, và với Mặt trăng Song Tử, chân-đạp-hai-thuyền quả thực là vấn đề của tôi.

Tôi thấm nhuần thái độ dành cho chiêm tinh, cái thái độ đã được Hội quán nuôi dưỡng. Đó là thứ tôi chia sẻ, thứ tôi hiểu, nó có thể bao gồm một vài chứng minh triết học cho chiêm tinh (triết học không phải thế mạnh của tôi, nhưng vẫn tốt hơn mấy niềm tin mù quáng kiểu “Chúng ta vẫn chưa hiểu được nó, vì chúng ta không thể đo được nó, nhưng nhất định chúng ta sẽ làm được” – tôi không nuốt nổi cái này).

Ông có thể vui lòng bật mí thông tin ngày sinh của mình không? Lý do tôi hỏi là vì tôi rất hứng thú không biết các bản đồ sao của chiêm tinh gia thể hiện thiên hướng của họ đối với chiêm tinh như thế nào?

Tôi sẽ nói về các góc hợp, thay vì trưng ra cả bản đồ sao. Tôi có sao Kim Thiên Yết ở nhà 1, và tôi đã từng bắt gặp nó trong bản đồ sao của các nhà thảo dược khác. Sao Kim thì bạn có thể liên hệ với Tam Duyên Nữ¹³ – bạn có thể thích các loại thực vật xinh đẹp, nó là một phần của sự phát triển theo nghĩa bóng của thế giới – nhưng với Thiên Yết thì nó đầu tiên là tiềm năng chữa trị, và tiếp nữa là tri thức huyền bí (nơi chiêm tinh gắn bó).

Thế là tôi có cung mọc Thiên Yết. Sao Hỏa, như lẽ thường, luôn chỉ thị nhà điều trị, bác sĩ phẫu thuật và dược sĩ – sao Hỏa của tôi kiên cố ở Bạch Dương. Thiên Đỉnh của tôi thuộc cung Sư Tử, Mặt trời ở Nhân Mã – tôi tìm kiếm sự thông tuệ hơn là ứng dụng thực tế. Tôi nghĩ điều này nghĩa là trong bất kì công việc điều trị nào, bạn có thể chỉ đơn thuần làm việc thôi; trong khi tôi luôn khát khao bức tranh lớn hơn, với tính Nhân Mã của mình.

Tôi có Diêm Vương Xử Nữ ở nhà 10, và ở Hội quán Chiêm tinh cuối tuần trước, chúng tôi có Michael Lutin từ Mỹ đến. Ông ta làm trò với chúng tôi bằng suy nghĩ về Diêm Vương ở Sư Tử và Diêm Vương ở Xử Nữ của ông – Diêm Vương Xử Nữ như hai ác quỷ và thiên thần trong siêu thị vậy, kẻ này bảo với kẻ kia là mi phải nấu đậu phụ tròn hai mươi phút; Xử Nữ lo lắng về sức khỏe. Chắc chắn nó cũng ảnh hưởng đôi chút đến vấn đề.

Tôi sẽ nói rằng đó là những đặc điểm nổi bật trong bản đồ sao liên quan đến những việc tôi làm. Rồi sao Thủy Ma Kết có nghĩa là tôi đắm chìm trong việc nghiên cứu từ lịch sử, từ những gì đi trước – vì tôi thực sự tin rằng sẽ có sự bùng nổ kĩ thuật trong thế kỉ hai mươi, nó như kiểu một sân chơi mở – và nó vẫn sẽ diễn ra trong sự phớt lờ về những gì các chiêm tinh gia đã làm, một cách kiên định, trong hàng trăm năm. Tôi thực sự đang nghĩ lại thời tiền-Lilly¹⁴, vì trong một số kĩ thuật chuyên biệt nhất định liên quan đến chiêm tinh vấn thời, Lilly đã giản lược tình huống (dù với hiệu quả tuyệt vời). Nhưng trước Lilly, bạn có thể nhìn vào những thứ đó và chúng giống hệt thế kỉ 16 ở Pháp với Dariot¹⁵, như chúng đã từng vào thế kỉ 13 với Bonatti¹⁶, như chúng đã từng vào thế kỉ 11 với Al-Biruni¹⁷. Tôi thích tìm hiểu xem mình đến từ đâu và người ta đã làm gì trước tôi.

Culpeper, khi nói về các chiêm tinh gia, đã bảo “không còn ai thích hợp hơn họ để làm bác sĩ điều trị” – ông có đồng ý với điều này không? Ông có cảm thấy kiến thức về chiêm tinh có thể hỗ trợ những người đang làm trong ngành y không?

Tôi thực sự cho rằng chiêm tinh có thể giúp những người làm trong ngành y – hoặc ngành tư vấn. Nên kết hợp chiêm tinh với hệ thống kia đến đâu thì vẫn là vấn đề đang được tranh cãi, tôi vẫn chưa có câu trả lời. Tôi nghĩ có rắc rối với các người cố vấn (chỉ lấy ví dụ trong lĩnh vực không liên quan gì đến y, ít nhất là không liên quan đến y học truyền thống) vì họ được đào tạo theo chương trình cụ thể, rất kị can thiệp. Bạn có thể dành ra sáu tuần để đồng cảm với khách hàng, và cho họ không gian để họ có thể mở lời. Nhưng chiêm tinh thì ưa can thiệp. Bạn có thể bảo, dựa vào bản đồ sao gốc, ‘Anh phải làm thế này’, hay ‘Trong ba cái, chọn cái này đi’, hay ‘Anh cần phải bám theo chế độ ăn uống này’ (hãy nghĩ đến chiêm tinh y học).

Tôi nghĩ nó có thể hữu dụng. Giờ thì, tôi không thích ý tưởng coi chiêm tinh như một món phụ trợ. Đây chính là vấn đề – khi mà nó được sử dụng như phương pháp phụ hỗ trợ cho (ví dụ như) trị liệu kiểu Jung, vì thường thì họ không thực hiện phần chiêm tinh đủ tốt. Họ không coi nó như một thứ hoàn chỉnh tự thân nó. Vậy nên tôi nghĩ rằng nó có thể rất hữu dụng, nhưng tiền đề là phải tôn trọng chiêm tinh như một thứ tự thân đã đầy đủ, chứ không chỉ như một kĩ thuật hay một bổ cứu nhỏ bé như cách bạn làm kiểm tra VEGA¹⁸ hay dùng nến xông tai Hopi¹⁹…

Nến xông tai Hopi?!

Đó gọi là sự thu giảm đến hoang đường… (cười)

Nhưng những gì Culpeper nói – đầu tiên, bạn phải hiểu nó trong ngữ cảnh. Ông ấy là một tên tuổi mang tính cách mạng. Ông ấy đã đưa ra bao nhiêu lời chê trách đến trước cửa các bác sĩ, luật sư và linh mục; ông ấy còn muốn bắt tất cả bọn họ rời khỏi đất nước nữa kia. Tất cả tài liệu y đều được viết bằng chữ Latin nên người bình thường không thể đọc được, bởi vậy họ không thể thấy được mình cư xử mê tín như thế nào… Viện Chẩn trị Hoàng gia, trong lễ gia nhập, đã trao tặng vua Charles Đệ Nhị bột rễ kỳ lân!

Thực tế thì nó là gì?

Tôi chắc chắn các nhà sử học y khoa có nhiều ý kiến về việc nó thực sự là cái gì, nhưng tuyên bố nó là món đó thì khá kì cục, đúng không? Rồi Culpeper buộc tội họ mưu đồ lũng đoạn thị trường; vì một khi Viện Chẩn trị Hoàng gia được thành lập, họ muốn ngăn không cho mọi người tiến hành bất kì kiểu chữa bệnh nào. Họ có thể đóng cửa các hiệu thuốc; bạn không được phép chữa trị cho mọi người bằng cách khám hay kê đơn. Nhưng họ không có đủ bác sĩ để khám cho tất cả người dân ở London, và hầu hết số đó dù sao cũng không đủ sức chi trả. Vậy nên họ bị từ chối.

Bài có thể cùng chủ đề:  Trực giác không thôi thì chưa đủ

Đây, thực ra chính là lúc ‘Hiến chương Lang băm’ của vua Henry Đệ Bát xuất hiện. Sau hai mươi năm có lẻ của Viện Chẩn trị Hoàng gia, dân nghèo đã đứng dậy. Vậy nên nhà vua ban hành ‘Hiến chương Lang băm’, nó viết, nếu bạn biết về thảo mộc thì bạn có thể chẩn trị miễn phí cho một số người bị loại bệnh nhất định.

Culpeper phản đối tất cả những thứ này, vì về cơ bản họ chỉ quan tâm đến tiền bạc. Họ muốn người ta bệnh, có vậy họ mới làm tiền được nhiều hơn – đó là cáo buộc của ông ấy. Sử dụng chiêm tinh – nó đem đến vấn đề về chẩn bệnh. Rõ ràng, chẩn bệnh hồi đó không phát triển như bây giờ. Hơn nữa, cùng với khó khăn trong việc chẩn đoán bệnh tình, một số thuốc, loại này độc hơn loại kia, được sử dụng, và các loại thuốc xổ vô cùng mạnh, rồi chảy máu, tất cả những thứ đó.

Phương pháp của Culpeper khá nhẹ nhàng. Khi bảo rằng hoa bia loại bỏ tính hỏa, ông ấy không có ý chỉ cái cách như của bìm bìm Scammonia. Scammonia có thể giết bạn nếu bị dùng quá liều, hoa bia hầu như chỉ đưa bạn vào giấc ngủ.

Culpeper thấy rằng chiêm tinh có thể hé lộ những thứ khác. Tôi cũng tin điều này. Ví dụ vừa nãy với cô nhà báo vào thứ hai tuần trước; dường như tôi biết tất cả việc đó, và tôi chưa từng gặp cô ấy. Nó trở thành khả dĩ thông qua sức mạnh của chiêm tinh. Nhưng liệu có phải chỉ những ai sử dụng chiêm tinh mới có thể trở thành bác sĩ trị liệu hay không – thì, tôi buộc phải phủ nhận. Nó không phải điều kiện cần để hành nghề y, và có những lương y vĩ đại ngoài kia, họ không sử dụng chiêm tinh. Tôi luôn muốn thử sức và thật khiêm tốn trong lãnh vực chữa trị, vì con người đang chịu đau đớn tột cùng; nếu ai đó có thể giúp đỡ và giúp họ thấy khá hơn, điều đó thật tuyệt vời. Việc nói, ‘Anh không thể làm thế này được vì anh không làm cái này hay cái khác’ chẳng khác gì điều những bác sĩ kia đã cố làm trong quá khứ – độc chiếm. Vì vậy, tôi sẽ không nói như thế.

Culpeper có một quan điểm chính trị to lớn muốn thuyết phục mọi người, và tôi nghĩ đây là một trong các vấn đề. Nhưng có cả mớ thứ hoàng kim về nó: ‘Chúa sắp đặt cho các hành tinh chuyển động, vì thế sử dụng chiêm tinh là gần hơn với Chúa’. Có một câu thế này chắc chắn hay được dùng vào thời của Culpeper – ‘Để ba bác sĩ cùng một chỗ và hai trong số đó sẽ trở thành người vô thần’. Vì thế, tôi nghĩ mọi người phải nhìn nhận câu nói của ông ấy trong bối cảnh thời đại, và luôn ghi nhớ trong đầu quan điểm chính trị mà Culpeper mong muốn vận động mọi người.

Đã có ai từng sử dụng hình thức tiên đoán khác (vì mong muốn có một tên gọi đẹp hơn) trong lịch sử y học chưa – tôi đang nghĩ tới những thứ như Kinh Dịch, hoặc Tarot?

Chưa, không phải kiểu tôi biết. Tuy có lẽ là một người sử dụng Kinh Dịch hoặc Tarot, nếu đủ giỏi, có thể kéo cả y học vào chuyên ngành của mình – ‘Tarot về sức khỏe’. Tôi nghĩ tương tự như thế có thể kể đến kiểm tra VEGA. Bây giờ có bao nhiêu loại máy móc mà bạn đẩy người ta vào trong đó rồi nó nói cho họ biết vấn đề của họ là gì. Giờ thì không phải tôi không biết tí gì về lĩnh vực này, nhưng tôi hoài nghi nó. Tôi tin rằng cốt lõi lúc đầu của những cái máy này là tốt, là dựa trên dữ liệu khoa học – lần lại với Đức trong những ngày đầu của thế kỉ. Nhưng có cả tá mấy cái máy thế này, và người ta đương nhiên nghi ngờ chúng.

Để tôi ví dụ cho anh, có một ông hành nghề y – tôi sẽ không nói ở đâu, nhưng ông ta sống ở một chỗ dưới nơi tôi ở. Ông ấy khá có uy tín ở chỗ đó. Tôi đã nhận vài bệnh nhân của ông ta, họ đến để gặp tôi, để thử tìm hiểu xem có vấn đề gì với họ. Tình cờ thế nào mà ba trong bốn người ấy đều được chẩn đoán là chính miếng trám hợp kim thủy ngân Amalgam của họ đã gây ra vấn đề, và nếu họ gỡ hết nó ra thì họ sẽ khá hơn. Họ đã không làm thế, và họ đã không khá hơn; đó là lý do họ đến gặp tôi. Sẽ tốn nhiều tiền hơn nếu miếng trám ấy không phải là nguyên nhân; và với ba trong bốn người, ta bắt đầu nghi ngờ.

Nhưng nói đi cũng phải nói lại, có một vị bác sĩ đa khoa trong vùng từng kể cho tôi về vấn đề với một bệnh nhân bị đau ngực mà không rõ nguyên nhân. Nguồn căn này khá là đánh đố khi chẩn đoán, dù với sự trợ giúp điều tra từ công nghệ đi chăng nữa. Người bệnh thực sự đã đến gặp bác sĩ kiểm tra VEGA này, và vấn đề nằm ở hệ thống ruột, chứ không phải tim mạch hay phổi. Vị bác sĩ khá là bất ngờ. Và tôi sẽ không loại bỏ ví dụ này. Nó đáng lẽ phải tuân theo quy tắc khoa học, nhưng tôi không chắc là nó đã như thế; năng lượng điện từ trường – ừ thì, có thể vậy, có thể không. Tôi không chắc. Nhưng đó là tất cả những gì tôi có thể nghĩ ra, thật sự.

Hoặc không thì bạn đang sa vào cái bẫy đặt trước, và điều khiển tâm lý mình rơi vào ấy. Nhưng đấy không thực sự là tiên đoán hay bói toán.

Hiểu biết về bốn tính khí đã khiến phương pháp của ông trở nên khác biệt như thế nào?

Trong địa hạt điều trị tổng quát, không tồn tại ẩn dụ ‘cơ thể giống như máy móc’ nên ‘bạn giống hệt người kia’; mỗi người đều là một cá thể khác biệt. Một phần của tính cá thể ấy sẽ trở thành tính khí nền, cũng như những gì xảy ra với họ sau đó. Một tác dụng khác của tính khí nền là để đánh giá xem một người đang bệnh đến đâu. Ví dụ, nếu một người (cứ cho là) bảy mươi tuổi, thì – do dự suy giảm của nhiệt nội cơ thể – họ sẽ thiên về hàn tính. Vậy nên nếu họ bị bệnh hàn tính, bạn có thể thấy chẳng phải đâu xa ngoài tính khí ở cái tuổi đó trong đời của họ khiến họ bị ốm.

Nhưng nếu người đó bị bệnh nhiệt tính thì bạn sẽ nghĩ ‘Cái này có gì đó nghiêm trọng rồi’, và rồi bạn có thể sẽ nghĩ tới những thứ như ung thư, hay bệnh tim mạch. Vậy nên tính khí và những thứ hậu phát trong quá trình sống của một cá nhân cho phép bạn đánh giá mức độ bệnh tình của họ. Trong địa hạt điều trị tổng quát, điều này tỏ ra rất hữu dụng; ví dụ, nó có thể tiếp diễn thành suy nghĩ ‘Mình sẽ đưa họ loại thuốc mạnh thế nào nhỉ?’. Không chỉ là loại thuốc mà còn là liều lượng tôi kê cho họ.

Nhận ra được những việc này thực ra là một bước tiến dài từ việc xem bệnh nhân đến từ đâu. Tôi nghĩ điều này rất có ích. Nhưng Hippocrates dạy chúng ta rằng một người không chỉ đơn thuần là tổng hợp các bộ phận rời rạc của anh hay cô ta. Vậy nên chúng tôi không muốn tối giản họ bằng ẩn dụ coi cơ thể là máy móc. Sự thống nhất của một con người là một điều đặc biệt và bí ẩn. Để diễn đạt lại Hippocrates thì, ‘Biết kiểu người đó có tính khí nào và bệnh tật đặc biệt nào dễ mắc phải quan trọng hơn so với việc biết kiểu tính khí và bệnh tật mà người đó mắc phải’.

Tôi có thể kể ra một ca khác: một người phụ nữ đến gặp tôi, rất thon thả, cực kỳ quyến rũ, bận đồ đen. Về cơ bản thì cô ấy bị một bệnh có thể gọi là nấm Candida. Bây giờ nó được các chuyên gia khoa tiêu hóa, những người thực sự nghiêm túc với nó, gọi là rối loạn khuẩn ruột. Cô ấy có vấn đề về nấm men, trong ruột; và cô ấy bị sưng – ở phần cánh chậu bên trái. Nó có thể di chuyển lên hoặc xuống, và họ không biết rõ nó là cái gì. Việc cô ấy xuất hiện trong dáng vẻ đó – hình thể của cô ấy, rất sốc. Điều này được thể hiện ở tính khí u sầu trong bản đồ sao gốc của cô ấy, và một sao Thổ kiên cố đóng ở Ma Kết, ngay góc bản đồ sao. Sao Thổ, đương nhiên, ứng với màu đen.

Tính khí đó có thể dẫn đến các vấn đề về nấm men. Ngạc nhiên là, cô ấy làm việc ở một nhà máy socola. Trong bản đồ, sao Kim vuông góc sao Mộc. Tôi đã nói về việc sao Mộc là đức hạnh cơ bản, cai quản gan, hệ thống tiêu hóa ra sao. Giờ thì sao Kim vuông góc sao Mộc. Bạn nghĩ, ‘Hm – sao Kim là một sao tốt, cũng không tệ lắm’. Thực ra thì không phải vậy; nó giống như bạn bị bội thực bởi một bữa ăn ngon.. Cô này ăn socola khi làm việc, nên cô ấy hấp thu quá nhiều đường rồi sau đó cô ấy bị nấm miệng, nên cô ấy dùng thuốc kháng sinh, nó biến đổi hệ vi khuẩn đường ruột, thể hiện qua lượng khuẩn yếm khí, nấm men tăng đột biến, và kết quả như bạn thấy đấy.

Việc trị liệu đã thành công. Ở đây, chiêm tinh cho phép bạn nhìn nhận tình huống và suy nghĩ, ‘Để xem – với cô ấy thì không tệ lắm’, vì tính khí của cô ấy đồng nghĩa với việc cô ấy dễ bị bệnh này hơn các loại tính khí khác. Vậy nên nó cũng dễ chữa trị hơn, dù cho có bị sưng ở phần bụng như thế – một biểu hiện khá lo lắng. Cô ấy chỉ đến một thời gian ngắn, sau đó cô ấy đã khá lên rất nhiều, rồi tôi nhận được lũ lượt bệnh nhân từ chỗ cô ấy sống. Vậy là, chắc chắn cô ấy đã rất hài lòng với việc chữa trị, và hết lời ngợi khen tôi!

Lilly nói, “… càng thoát tục bao nhiêu và càng gần Chúa bao nhiêu, ngươi càng có thể đưa ra nhận định tinh thuần bấy nhiêu”. Câu này dường như ám chỉ rằng chiêm tinh không chỉ đơn thuần là một tập hợp kĩ thuật mà lại là một dạng giao tiếp ở cấp độ có thể gọi là tinh thần. Ông có nhận xét thế nào về vấn đề này?

Tôi nghĩ là đúng thế. Với tôi, nó hoàn toàn thuộc về tinh thần, không hề liên quan đến tôn giáo. Nhưng vâng, tôi cho rằng những người hành nghề y nên xuất phát từ một nơi mà ở đó, họ đã thực sự nhìn vào bản thân mình, giải phóng cho bản thân, từ đó họ mới có thể nhìn nhận người khác tốt hơn. Nếu không, theo ngôn ngữ tâm lý trị liệu thì bạn đang sa vào chuyển dịch ngược²⁰.

Trong giới hạn trị liệu, nếu tình trạng sức khỏe của bạn không tốt, thì bạn không phải một ví dụ tốt cho phương thức trị liệu của bản thân. Vậy nên tôi nghĩ chính bạn phải tự tiến lên (như đã từng) một con đường tinh thần – một tâm đạo. Bạn có thể thấy nó trong bản chất của tôi – với Mặt trời Nhân Mã chủ quản Thiên Đỉnh, nó là khuynh hướng của tôi. Nhưng tôi nghĩ bạn cũng có.

Quay trở lại với câu nói về, ‘Để ba bác sĩ lại với nhau thì hai trong đó sẽ trở thành người vô thần’ – bác sĩ không nhất thiết phải như thế. Nhưng bạn thực sự phải quên mình, để luôn tâm niệm chăm sóc cho người bệnh, nên ở những người hành y giỏi phải tồn tại thứ lớn hơn đam mê vật chất. Vậy nên tôi sẽ đồng ý với Lilly. Tôi nghĩ để hành nghề thực sự giỏi, trước hết bạn phải cởi bỏ trói buộc bản thân đã.

Có một vấn đề xung quanh việc chiêm tinh vấn thời bắt nguồn từ đâu. Nếu bạn có đọc Bonatti ở thế kỉ 13, trong các cách ngôn của ông ấy, bạn phải đi xa một ngày một đêm để ngẫm nghĩ về câu hỏi của mình trước khi quay trở lại với chiêm tinh gia. Bây giờ David Pingree, một chuyên gia nổi tiếng thế giới về lịch sử chiêm tinh, nói ‘Đây là một dấu hiệu cho thấy chiêm tinh bắt nguồn từ Ấn Độ’ – vì đây có thể là lối tu hành của các cao tăng ở Ấn Độ. Rồi gần đây tôi mới đọc Al-Biruni, ông ấy chỉ trích các chiêm tinh gia trong một số nhóm hoặc bộ lạc, những người bảo dân đi một ngày một đêm rồi giả vờ nói với họ về tiền kiếp. Al-Biruni cho rằng bạn không thể làm thế.

Nhưng đây là vấn đề khi đến với chiêm tinh theo cách thánh khiết đức tin, và thực sự có điều gì đó trong nó. Dù tôi không tiến hành nghi thức gì trước khi lập một bản đồ sao (thực ra tôi cho rằng việc lập bản đồ sao tự thân nó đã là một nghi thức), tôi không hiểu tại sao người ta lại không được phép kết hợp các nghi thức, như một lối thực hành hay như một phản ảnh của niềm tin, rằng phải tồn tại một phương diện tinh thần trong nghiên cứu và thực hành chiêm tinh.

Ông có cảm thấy chiêm tinh cần một hình thức cụ thể nào đó của hệ thống đức tin để làm nền tảng cho nó và khiến nó đầy đủ – như triết học Hermes²¹ chẳng hạn? Hay tự bản thân nó đã kiên cố?

Những gì tôi học được từ Hội quán Chiêm tinh chính là chúng ta có thể nói, ‘Sao Kim chủ quản ái tình, hòa hợp và yên bình; và kẹo marshmallow mềm mịn; và những cây trái mềm mọng ngày hè’; những thứ kiểu này chính là triết học Hermes. Thông qua đó bạn đang bảo rằng mọi thứ trong vũ trụ đều ứng với một trong bảy hành tinh. Nếu bạn không chấp nhận nó, thì những hiệu ứng nhiệm màu mà chiêm tinh dựa vào cũng sụp đổ.

Chiêm tinh phải là một môn nghệ thuật Hermes. Mấu chốt là phải thấy tính thông diễn trong Hermes. Tất cả đều xoay quanh việc rút ra ý nghĩa thông qua việc đọc các dấu hiệu. Phải có triết học nào đó làm nền tảng cho nó, nhưng tôi không nghĩ nó nhất thiết phải là một ‘hệ thống đức tin’. Nó có thể là một cách quan sát vũ trụ… Giờ nó có thể là một hệ thống đức tin, vì các nhà vật lý đã tiến bộ nhiều và vũ trụ không được hình thành theo lối đó, vậy thì cứ thế đi, nó là một hệ thống đức tin vậy. Nhưng khi người ta nói, ‘Ông có tin vào chiêm tinh không?’ tôi đều suy ngẫm về câu trả lời. Luôn luôn, trong khi bạn thực hành chiêm tinh, nó phải hiệu quả – nếu không thì tại sao bạn lại dùng nó? Đây là mặt vô cùng thiết thực, và đương nhiên chiêm tinh y học phải thiết thực.
__

Graeme Tobyn là một nhà thảo dược đủ tiêu chuẩn hành nghề, là giảng viên về sức khỏe tại một trường đại học ở Anh, đồng thời là giảng viên và nghiên cứu chiêm tinh học gần 40 năm. Là một thành viên của Hiệp hội Chiêm tinh, Anh quốc, ông tham gia nghiên cứu và dịch các văn bản chiêm tinh từ thời Phục Hưng, là người soạn nên khóa học Katarche thuộc Hiệp hội Chiêm tinh về chiêm tinh học vấn thời, bên cạnh đó, ông cũng giảng dạy về lịch sử và thực hành chiêm tinh y học ở Anh và các nước khác. Graeme Tobyn là tác giả của quyển sách Culpeper’s Medicine và The Western Herbal Tradition. Từ năm 2017 trở đi ông sẽ khai giảng một chương trình học trực tuyến về chiêm tinh y học bằng tiếng Anh. Nếu quan tâm, hãy liên hệ admin@coa.org.uk.

Garry Phillipson bắt đầu công việc chiêm tinh của mình từ năm 1976. Tác phẩm của ông, Astrology in the Year Zero, được xuất bản vào năm 2000, là kết quả của quá trình nghiên cứu tính triết lý và những mệnh đề trụ cột trong chiêm tinh học. Những bài viết và diễn thuyết của ông có thể được tìm thấy dưới sự bảo hộ của các hiệp hội chiêm tinh dày dạn kinh nghiệm (Astrological Association of Great Britain, Astrological Lodge, Company of Astrologers, Urania Trust, Standing Conference on Organizational Symbolism, The Mountain Astrologer và Ascella.) Hiện tại ông đạng chuẩn bị cho luận án Tiến sĩ về Chiêm tinh và Sự thật tại Đại học Wales Trinity Saint David. Đồng thời ông cũng từng có thời gian dài gắn bó với triết học cùng Phật giáo (ông đã từng là một thầy tu trong sáu năm), và gần đây là triết lý Vệ Đà. Website của Garry là www.astrozero.co.uk, ngoài ra trang www.cosmocritic.com cũng được ông quản lý.

__

  1. (Liệu pháp) Y học Bổ sung/Y học Thay thế: Là ngành Y học tự nhiên thay thế các cách chữa bệnh thông thường. Thường dùng các phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc.
  2. Nicholas Culpeper (1616 – 1654) là một nhà bào chế thuốc, nhà vật lý người Anh. Được các tác phẩm của những thầy thuốc lỗi lạc như Paracelsus, những người chối bỏ các tổ chức y truyền thống, truyền cảm hứng, Culpeper đã xuất bản nhiều cuốn sách bằng tiếng Anh, giúp những người thầy thuốc không thể đọc tiếng Latin tiếp cận với tri thức y và dược học. Trong đó phải kể đến cuốn The English Physicians (nay được biết đến như Culpeper’s Herbal) vào năm 1653. Cuốn sách là nỗ lực kết hợp ý tưởng về Học thuyết Dấu hiệu (Doctrine of Signatures – cho rằng loại thảo dược giống bộ phận nào trên cơ thể thì có thể chữa loại bệnh xuất hiện ở bộ phận đó) và chiêm tinh vào điều trị thảo mộc. Ngoài ra, ông còn là một nhà cải cách chính trị chống lại vua, linh mục và luật sư, cũng như các bác sĩ có bằng cấp. Ông cống hiến cả đời để phục vụ kẻ ốm yếu, dân nghèo và những người thân cô thế cô.
  3. Paracelsus: (1493 – 1541), là nhà vật lý kiêm nhà giả kim người Đức – Thụy Sĩ, đã thiết lập vị trí của hóa học trong y học. Ông xuất bản quyển sách Great Surgery Book năm 1536 cùng với miêu tả về chữa trị bệnh giang mai năm 1530. Ông là người đầu tiên tuyên bố, với liều lượng nhỏ thì, ‘thứ gì gây bệnh cho một người cũng sẽ cứu anh ta’ – một đóng góp cho việc thực hành vi lượng đồng căn hiện đại.
  4. Thuốc steroid khác với chất steroid kích thích cơ bắp dùng cho vận động viên, nó được tạo ra như một loại hormone do cơ thể sản xuất, được gọi là corticoid, theo thuật ngữ y khoa thì là glucocorticoid. Thuốc steroid có nhiều tác dụng, như giảm đau, chống viêm; chống dị ứng;…
  5. Brufen là thuốc kháng viêm không steroid, dùng để hạ sốt ở trẻ em, giảm đau, trong đó có đau bụng kinh.
  6. Gluten là hỗn hợp của 2 protein – gliadin và glutenin, có trong lúa mì, yến mạch, lúa mạch. Nó liên kết với tinh bột nhằm tạo độ dẻo cho bột làm bánh. Bột này khi trộn với đường và chất lên men thì khí CO2 sẽ làm phồng bột bánh. Quá trình nướng làm gluten kết tụ, cố định hình dạng cuối cùng của bánh. Tuy nhiên, ngày nay, người tiêu dùng ngày càng hướng đến thực phẩm không gluten, vì số người mắc bệnh không dung nạp gluten ngày càng tăng. Ngoài ra, theo một bài viết tổng hợp trên New England Journal of Medicine, ăn gluten có thể dẫn tới 55 căn bệnh khác nhau, bao gồm: loãng xương, viêm tấy đường ruột, thiếu máu, một số bệnh về thần kinh và tâm thần,…
  7. Hạt lúa mì hiện đại ở đây chỉ các loại lúa mì được làm theo công nghệ hiện đại – biến đổi gen sinh học nhằm tăng năng suất, kháng côn trùng,… đồng thời làm tăng hàm lượng gluten tự nhiên trong ngũ cốc.
  8. Có 2 nhóm thuốc antihistamine (chống histamine): thuốc gây buồn ngủ (sedating antihistamines) và không gây buồn ngủ (nonsedating antihistamines). Loại thuốc này dùng để giảm triệu chứng dị ứng mũi và mắt, nổi mề đay, kích thích khẩu vị, tăng cường giấc ngủ, ho, say xe, say sóng, hoặc các bệnh ngoài da.
  9. Hội chứng thích ứng được đưa ra lần đầu bởi Hans Selye (1907 – 1982), một nhà vật lý gốc Áo. Hội chứng này còn gọi là GAS, miêu tả phản ứng ngắn và dài hạn của cơ thể với áp lực, có thể là áp lực vật lý hoặc áp lực tinh thần. Trong đó gồm ba pha. Pha thứ nhất là phản ứng cảnh báo (AR), ở pha này, cơ thể làm ra phản ứng tức thời với tác nhân tạo áp lực. Pha thứ hai là kháng cự (SR), trong pha này, nếu áp lực tiếp tục diễn ra thì cơ thể thích nghi với tác nhân mà nó tiếp xúc. Thay đổi ở nhiều cấp độ xảy ra để giảm thiểu ảnh hưởng của tác nhân. Pha thứ ba – kiệt quệ (SE), tại đây, áp lực đã diễn ra được một khoảng thời gian. Sự kháng cự của cơ thể với áp lực dần giảm đi, hoặc sụp đổ nhanh chóng. Nói chung, điều này nghĩa là hệ miễn dịch, khả năng chống chọi bệnh tật của cơ thể, có thể gần như bị loại bỏ hoàn toàn.
  10. Cortisone là một hormone corticosteroid (glucocorticoid) có tác dụng làm giảm phản ứng phòng vệ tự nhiên của cơ thể, các triệu chứng như sưng tấy và phản ứng kiểu dị ứng. Nó được dùng để chữa viêm khớp, rối loạn máu/hormone/hệ miễn dịch, phản ứng dị ứng, bệnh về da, vv.
  11. Hippocrates (460 – 377 TCN) được coi là người đầu tiên đưa loài người đến với y học như một môn khoa học thực thụ. Ông loại bỏ quan niệm bệnh tật do ma lực huyền bí gây nên của các thầy phù thủy đương thời, mở ra kỷ nguyên của các thầy thuốc lâm sàng. Bên cạnh đó, đặc trưng của nền y học tự nhiên Hippocrates còn là chú trọng đến khả năng đề kháng tự nhiên của con người, với các liệu pháp thực đơn, sử dụng suối nước khoáng,… Nó sở hữu nhiều điểm tương đồng với Đông y, coi bản chất y học là nhất nguyên, ‘Con người là tiểu vũ trụ nằm trong đại vũ trụ’, thống nhất giữa thể chất và tinh thần. Ngoài ra, Hippocrates còn được biết đến với những lời thề trịnh trọng đảm bảo cái tâm lương y của người thầy thuốc trước thần linh.
  12. Johann Wolfgang Dobereiner (1780 – 1849), là nhà hóa học người Đức, quan sát về điểm tương đồng giữa các nguyên tố nhất định của ông đã đóng góp cho sự phát triển của hệ tuần hoàn các nguyên tố.
  13. Tam Duyên Nữ (Three Graces) là ba tiểu thần của sự duyên dáng, cái đẹp, tự nhiên, sáng tạo và khả năng sinh sản trong thần thoại Hy Lạp.
  14. William Lilly (1602 – 1681), được miêu tả là “chiêm tinh gia bị vùi dập cũng như tôn vinh nhất của thế kỷ mười bảy”. Ông được biết đến với các công trình học thuật đồ sộ, trong đó phải kể đến Christian Astrology, tuyển tập lớn về kĩ thuật chiêm tinh. Đây là cuốn sách đầu tiên thuộc thể loại này được in ra bằng tiếng Anh thay vì Latin, và được nhận xét là đã dẫn đường cho “cả một đất nước đương kì suy thoái ngôn ngữ mà các vì sao nói”.
  15. Claude Dariot (1533 – 1594): nhà vật lý học và chiêm tinh gia người Pháp. Là tác giả của L’introduction au Jugement des Astres (Lyon, 1558) được dịch sang tiếng Anh vào năm 1583 với tên gọi Briefe and Most Easie Introduction to the Stars.
  16. Guido Bonatti (mất khoảng giữa năm 1296 và 1300) là một nhà toán học, nhà thiên văn, và chiêm tinh gia người Ý. Ông là một trong các chiêm tinh gia được tôn vinh nhất thế kỉ 13. Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là Liber Astronomiae, hay Book of Astronomy, viết vào khoảng 1277. Đây được coi là sách giáo khoa chiêm tinh kinh điển trong hai thế kỉ.
  17. Abu Arrayhan Muhammad ibn Ahmad al-Biruni: (973 – 1048) được tôn là một trong các học giả vĩ đại nhất của kỷ nguyên Hồi giáo trung đại, trong các lĩnh vực vật lý, toán học, thiên văn, và khoa học tự nhiên, ông cũng là nhà sử học, nhà niên đại học và nhà ngôn ngữ học có một không hai.
  18. Kiểm tra VEGA: Dấu hiệu đầu tiên của cơ thể hoạt động bất bình thường nằm ở điện tích. Nếu những điện tích không bình thường xuất hiện liên tục trong thời gian dủ dài thì cuối cùng sẽ dẫn đến thay đổi cấu trúc. Máy VEGA đo hiện tượng năng lượng sinh học này bằng cách ghi lại thay đổi của độ truyền dẫn qua da sau khi chịu một lượng điện áp nhỏ. Nó được dùng để kiểm tra dị ứng thức ăn và hóa học, mức độ áp lực mỗi bộ phận hay các phần cơ thể phải chịu đựng, áp lực tâm lý,…
  19. Nến xông tai Hopi hiện nay được sử dụng như phương pháp chữa trị các vấn đề về tai và xoang. Trước khi tiến hành trị liệu thì khách hàng sẽ được tư vấn viên hỏi han kĩ lưỡng mục đích cũng như tiền sử bệnh về tai để tìm ra phương pháp thích hợp nhất. Khách hàng được đặt nằm nghiêng thoải mái. Nến Hopi sẽ được đặt nhẹ nhàng vào trong ống thính rồi thắp sáng. Nó được giữ chặt để tránh làm rơi tro vào tai hay vãi ra xung quanh tai. Những cây nến này hoạt động theo nguyên tắc “ống khói”, hút chất bẩn trong tai lên. Không khí di chuyển dọc lên có tác dụng mát-xa nhẹ nhàng cho màng nhĩ, nhờ đó, giúp điều hòa áp lực. Nhiệt từ nến cũng có tác dụng kích thích tuần hoàn máu, tăng cường hệ miễn dịch và tuần hoàn bạch huyết.
  20. Chuyển dịch ngược (counter-transference) là tình huống trong đó, tâm lý của bác sĩ trị liệu, thay vì bệnh nhân, bị xáo trộn, thể hiện sự bất ổn ra ngoài.
  21. Triết học Hermes thuộc chủ nghĩa Hermes – những tư tưởng được rút ra từ các bài viết được coi là của Hermes Trismegistus. Đây thực ra là một nhân vật không có thực, mà là bút danh chung, tập hợp cho nhiều tư tưởng đồng điệu. Về mặt triết học, nó cho rằng tồn tại một Đấng Tối Cao duy nhất vượt ngoài vật chất.

__

Dịch từ An Interview with Graeme Tobyn by Garry Phillipson dưới sự cho phép của Tobyn và Phillipson.

Copyright © by Graeme Tobyn & Garry Phillipson | Bản dịch © Saturn Cafe.

Ảnh: Bìa quyển Jacob Kassay của tác giả cùng tên.

 

Write a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *